Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về giống bưởi trên thế giới 1. Nghiên cứu về nguồn gốc và phân loại 1. Nguồn gốc Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất.
Theo nhiều báo cáo nói về nguồn gốc của cây cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cây cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Hymalaya Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền Nam Inđonesia hoặc kéo đến lục địa Úc (Wakana, 1998) [27]. Song từ rất sớm cây cam quýt đã được phát triển ra các châu lục khác. Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loại cam quýt quan trọng, tại đây có tìm thấy rất nhiều loại cam quýt hoang dại. Các loại chanh vỏ mỏng (Lime.
Auranlifolia Swingle) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc và miền Tây Ấn Độ, sau đó các thủy thủ đầu tiên đến Ấn Độ đã mang về trồng ở Châu Phi, Địa Trung Hải, Châu Âu (Swingle, 1967) [25]. Theo quan điểm của Giucopki để có tài liệu chắc chắn về nguồn gốc của cây bưởi cần nghiên cứu các thực vật thuộc họ Rutaceae và nhất là họ phụ Aurantinoidea ở vùng núi Hymalaya miền Tây Trung Quốc và các vùng núi thuộc bán đảo Đông Dương. Một số tác giả Trung Quốc cho rằng: cây bưởi hiện đang trồng ở Trung Quốc có thể được du nhập. Song sự du nhập phải từ trên 2000 năm ( Mạc Thị Đua, 1997) [7].
Như vậy nguồn gốc của cây bưởi cho đến nay vẫn chưa được thống nhất, nhưng với lịch sử trồng trọt lâu đời nhiều tác giả cho rằng bưởi có thể có nguồn gốc tại Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc… Hiện nay, bưởi được trồng nhiều ở phía Nam Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, Ấn Độ, Việt Nam … 1. Phân loại Cây bưởi có tên khoa học là: Citrus grandis (L). Cây bưởi thuộc họ cam: Rustaceae. n 5 Họ phụ: Aurantioideae.
Chi phụ: Eucitrus. Loài: Citrus grandis Trong nhóm cam quýt nói chung và nhóm cây trong họ hoa hồng (Rutaceae) đều có chung những đặc điểm phân loại như: Cây có mang tuyến dầu chủ yếu phân bố ở lá, bầu mọc nối trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa, quả gồm hai hay nhiều noãn bên trong. Họ hoa hồng được phân chia thành 130 giống (genus) với những đặc điểm chung như trên, 130 giống này nằm trong 7 họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ hoa hồng (Aurantirideae) có ý nghĩa nhất. Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc Citreae (28 giống) và tộc phụ Citrinae (13 giống), 3 nhóm “tiền cam quýt” và nhóm “cam quýt thực sự” được phân nhóm từ Citreae và tộc phụ Citrinae.
Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có rất nhiều giống (cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của các giống này (hybrids), hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân tố gây khó khăn cho việc phân loại cam quýt. Hiện nay tồn tại hai hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng. Theo Tanaka Nhật Bản (1954) [26] cam quýt gồm 160 - 162 loài (specials), ông quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống cam quýt qua trồng trọt đã có nhiều biến dị trở thành giống mới, Tanaka quan sát và ghi chép tỉ mỉ đặc điểm hình thái của các giống đã biến dị và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới với tên khoa học được bắt đầu bằng tên của giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka. Swingle (1967) [25] đã phân chia cam quýt ra thành 16 loài, bảng phân loại của Swingle đơn giản hơn nên được sử dụng nhiều hơn, tuy nhiên các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến từng giống.
Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm “true citrus group” và nhóm con lai được liệt kê ở bảng sau và tên của một số nhóm con lai phổ biến, đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, cụ thể được mô tả như sau: n 6 Bảng 1. Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Tên loài Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt C. sisnensis Sweets orange Cam ngọt C. aurantium Sour orange Cam chua C.
reticulata Mandarin Quýt C. paradisi Pomelo(grape fruit) Bưởi chùm C. grandis Shadock(pummelo) Bưởi C. limon Lemon Chanh ta C.medica Citron Chanh có núm C.aurantifolia Lime Chanh vỏ mỏng C.
Margarita Kumquat Quất Bảng 1.2: Tên gọi của các nhóm con lai (hybrids) Tangar = C. Margarita Theo sơ đồ phân loại cây có múi của Swingle (1948) [25] thì bưởi và bưởi chùm là hai loài khác nhau trong cùng một chi Citrus, tuy vậy bưởi đơn và bưởi chùm có mối quan hệ chặt chẽ. Theo Webber, bưởi chùm xuất hiện ở Barbados (Tây Ấn Độ). Năm 1930, Macfadyen đã phân bưởi chùm thành một loài mới và lấy tên là Citrus paradisi Macf (Tanaka, 1954) [26].
Bưởi (Citrus grandis/Pummelo): quả to nhất trong các loài cam quýt, có vị chua hoặc ngọt, bầu có từ 13- 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều. Hiện nay giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu ở các nước Nhiệt đới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam … Việt Nam có rất nhiều giống bưởi ngon nổi tiếng như bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, Phú Diễn, bưởi Đoan Hùng … n 7 Bưởi chùm (Citrus paradisi/Grape fruit): được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citirus grandis) vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi nhưng là nhỏ hơn, eo lá cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ. Bưởi chùm cho những giống ít hạt như Duncan, phần lớn các giống bưởi chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép. Quả bưởi chùm là món ăn tráng miệng được ưa chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cùi cắt thành các lát nhỏ dung sau bữa ăn.
Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng ở bang Florida Mỹ chiếm 70% sản lượng bưởi chùm của cả thế giới. Nghiên cứu về giống * Trên thế giới: theo nghiên cứu của J.Saunt (1990) [21], các giống bưởi triển vọng phát triển tốt ở các nước châu Á như: Thái Lan 3 giống, Trung Quốc 3 giống, Indonexia 5 giống. - Ở Thái Lan, theo kết quả điều tra, khảo sát của tác giả N.Chomchalaw và cộng sự thì bưởi có 51 giống trên toàn bộ lãnh thổ, trong đó có nhiều giống mới có triển vọng phát triển sản xuất (Do Dinh Ca, 1995) [18]. Theo Prasert Anupunt - Viện Làm vườn Thái Lan, các giống bưởi phổ biến trong sản xuất được trồng ở các tỉnh miền Trung như Nakhon Pathom, Samut Sakhon, Samut songkhram.
Một số giống khác như: Khao Tangkwa, Som Krun, Khao Udom Sook và Manorom được trồng ở Chai Nat và Nakhon Sawan; giống Khao Uthai là giống đặc sản của tỉnh Uthai Thani; giống Takhoi và Som Pol được trồng phổ biến ở Phichit; giống Pattavia chỉ trồng ở vùng phía nam như ở tỉnh Surat Thani, Songkhla, Narathiwat và Pattani. - Trung Quốc có 3 giống bưởi ngon: bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quan Khê. Đây là những giống đã được Bộ nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao và cấp huy Phần vàng. Trong đó có giống bưởi Văn Đán rất nổi tiếng ở Đài Loan, do có đặc tính tự thụ, phôi không phát triển nên không có hạt, chất lượng rất tốt được nhiều người ưa chuộng (Nguyễn Văn Tôn, 1993) [14].Zhang (1981) có 7 giống bưởi chùm là những giống có nguồn gốc từ cây lai.
Ở Trung Quốc dùng phương pháp lai tạo đã tạo ra được các giống bưởi có ưu thế lai nổi trội có triển vọng cho chiến lược phát triển cây ăn quả có múi hàng hoá của nước này với chất lượng cao, giá thành hạ, khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới (Nguyễn Văn Tôn, 1993) [14]. - Philippines là một nước sản xuất nhiều bưởi. Tuy nhiên các giống bưởi ở Philippine đều là các giống nhập nội từ các nước như Trung Quốc, Thái Lan,. ví dụ: giống Khao phuang từ Thái Lan, giống Amoy và Sunkiluk gốc Trung Quốc, chỉ có giống Fortich là giống địa phương (Do Dinh Ca, 1995) [18].
Tại trung tâm nghiên cứu cây trồng quốc tế Davao tác giả N.Estellena và cộng sự (1992) đã nghiên cứu khá sâu về tập đoàn giống bưởi, kết quả đã xác định được ở Philippin có 4 giống bưởi có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu với sâu bệnh khá tốt như Delacruzp - Pink, Magallanes và Amoymanta, Siamese. - Ở Malaysia có 24 giống được trồng phổ biến trong sản suất, bao gồm cả giống trong nước và nhập nội. Một số giống nổi tiếng là: Large red fleshed pomelo, Pomelo China (Do Dinh Ca, 1995) [18]. - Ấn Độ bưởi được trồng chủ yếu ở các vườn gia đình thuộc bang Assam và một số bang khác.
Một số giống được biết đến là: Dowali, Nowgong, Burni, Gagar, Zemabawk, Jorhat, Khanpara, Kamrup, Khasi, Bor Tanga, Hukma Tanga, Holong Tanga, Jamia Tanga và Aijal (Do Dinh Ca, 1995) [18]. Tình hình sản xuất và nghiên cứu bưởi tại Việt Nam 1. Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam Việt Nam là một trong những nơi khởi nguyên của nhiều loại cây trồng, do điều kiện khí hậu và địa hình bị chia cắt phức tạp, là một trong những nước có thể trồng được nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả. Kết quả điều tra cho thấy ở nước ta có hàng ngàn giống cây ăn quả thuộc 130 loài của hơn 30 họ thực vật (Trần Thế Tục, 1995) [15].
Nhiều loại cây ăn quả thích ứng với các vùng khác nhau trong nước như: chuối, dứa, cam quýt. Nhiều loại cây ăn quả được trồng theo vùng sinh n 9 thái tạo thành các vùng đặc sản nổi tiếng như nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn, các cây ăn quả đặc sản như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm ở miền Nam. Diện tích và sản lượng một số loại quả ở Việt Nam Năm 2009 2010 2011 Diện tích Sản lượng Diện tích Sản lượng Diện tích Sản lượng Quả (ha) (tấn) (ha) (tấn) (ha) (tấn) Chuối 71.800 Nguồn: FAO, 2012 Trong nhiều năm trở lại đây diện tích cây ăn quả không ngừng tăng nhanh ở Việt Nam, số liệu ở bảng 1.3 cho thấy cây ăn quả có diện tích, sản lượng cao gồm có chuối, dừa, xoài. Trong những năm gần đây, người tiêu dùng có xu hướng sử dụng bưởi quả làm thực phẩm thay cho các loại quả có múi khác.