Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ thống thủy văn phong phú với hơn 3.260 km bờ biển và trên 100 cửa sông lớn nhỏ đổ ra biển Đông. Vùng cửa sông Cổ Chiên thuộc lưu vực hạ lưu sông Mê Kông, trải dọc theo bờ biển dài 65 km của tỉnh Bến Tre, đóng vai trò là hành lang sinh thái thiết yếu kết nối dòng nước ngọt nội địa với môi trường biển nhiệt đới. Lưu lượng dòng chảy tại khu vực này biến động mạnh mẽ theo mùa, đạt khoảng 1.480 m3/s trong mùa cạn và tăng vọt lên 6.000 m3/s trong mùa lũ, tạo nên dải phân hóa độ mặn rộng từ 0,5 đến 32‰. Môi trường giàu dinh dưỡng này hình thành bãi đẻ và bãi nuôi dưỡng tự nhiên của nhiều quần xã thủy sinh vật có giá trị kinh tế.

Tuy nhiên, áp lực khai thác thủy sản ven bờ đang gia tăng nhanh chóng, trong đó hơn 70% phương tiện đánh bắt là tàu gỗ công suất nhỏ dưới 90 CV sử dụng ngư cụ tận diệt như cào đáy và lưới mắt nhỏ. Thực trạng này khiến nguồn lợi cá đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng. Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định cấu trúc thành phần loài, đánh giá tính đa dạng sinh học và phân tích biến động khu hệ cá vùng cửa sông Cổ Chiên trong chu kỳ 2011 - 2015. Kết quả cung cấp bộ dữ liệu phân loại học chuẩn xác gồm 142 loài cá, tạo luận cứ khoa học vững chắc cho công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch ngư trường và bảo tồn đa dạng sinh học bền vững tại tỉnh Bến Tre.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học cửa sông và phân vùng thủy vực nước lợ. Đề tài vận dụng hệ thống phân loại nước lợ quốc tế Venice (1959) nhằm phân định các vùng nước dựa trên nồng độ muối từ 0,5‰ đến trên 40‰, bao gồm các đới nước ngọt (Limnetic), nước lợ nhạt (Oligohaline), nước lợ chính thức (Mesohaline) và nước lợ mặn (Polyhaline). Đồng thời, lý thuyết động lực học tương tác sông - biển của Day (1981) và mô hình phân vùng cửa sông của McLusky (1974) được tích hợp để giải thích cơ chế lắng đọng dinh dưỡng, dịch chuyển khối nước và sự thích nghi của các nhóm sinh vật rộng muối, rộng nhiệt.

Về mặt phân loại học, nghiên cứu áp dụng khung phân loại của William N. Eschmeyer kết hợp với hệ thống chẩn loại cá xương và cá sụn hiện đại. Mức độ gần gũi và tương đồng giữa khu hệ cá Cổ Chiên với các cửa sông lân cận được lượng hóa thông qua chỉ số quan hệ Stugren - Radulescu (1961) và chỉ số tương đồng sinh thái Sorensen (SI). Các khái niệm cốt lõi như cấu trúc phân loại, nhóm sinh thái di cư hai chiều và năng suất sinh học vùng tiếp xúc lục địa - đại dương được chuẩn hóa làm thước đo đánh giá đa dạng sinh học.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực địa được thu thập qua 3 đợt khảo sát quy mô lớn vào tháng 8 các năm 2011 (từ 04 đến 10/8/2011), 2012 (từ 20 đến 27/8/2012) và 2015 (từ 23 đến 30/8/2015). Cỡ mẫu nghiên cứu gồm hàng nghìn cá thể được thu thập trực tiếp từ các đội tàu khai thác đại diện cho nhiều nghề khác nhau như lưới rê, giã cào, lưới đăng, vó đáy và bẫy lồng tại vùng cửa sông Cổ Chiên, kết hợp phỏng vấn sâu cộng đồng ngư dân địa phương.

Mẫu vật sau khi thu thập được định hình trong dung dịch formaline 8 - 10% và vận chuyển về phòng thí nghiệm chuyên sâu. Phương pháp định loại hình thái học so sánh dựa trên hơn 10 chỉ tiêu đo đếm hình thái sinh học theo quy chuẩn của Pravdin. Khóa phân loại tham chiếu chính bao gồm tài liệu chuyên khảo của FAO (1999 - 2001), công trình của Nakabo (2002) và hệ thống dữ liệu FishBase. Việc lựa chọn phương pháp phân tích hình thái kết hợp tính toán thống kê trên phần mềm chuyên dụng đảm bảo tính chuẩn xác, khách quan và khả năng tái lập cao trong nghiên cứu ngư loại học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận và định danh tổng cộng 142 loài cá thuộc 45 họ và 11 bộ, phân bố trong 2 lớp cá chính là lớp cá Mang tấm (Elasmobranchii) và lớp cá Vây tia (Actinopteri). Trung bình mỗi bộ có 4,1 họ và 12,9 loài, trong khi mỗi họ có bình quân 3,16 loài. Cấu trúc khu hệ cá phản ánh tính đa dạng cao đặc trưng của thủy vực cửa sông nhiệt đới gió mùa.

Bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế áp đảo về độ phong phú với hơn 50% tổng số họ và số loài ghi nhận. Các họ có số lượng loài nhiều nhất bao gồm họ cá Bống trắng (Gobiidae), họ cá Đù (Sciaenidae), họ cá Trích (Clupeidae) và họ cá Trỏng (Engraulidae). Đáng chú ý, nghiên cứu đã phát hiện sự hiện diện của các loài quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ gồm Cá Sủ giấy (Otolithoides biauritus) được xếp hạng Sắp nguy cấp (VU) trong Sách Đỏ Việt Nam và Cá Đuối bướm đuôi hoa (Gymnura poecilura) xếp hạng Sắp bị đe dọa (NT) theo danh mục đỏ IUCN. Về đặc tính sinh thái, nhóm cá rộng muối và cá di cư hai chiều chiếm trên 65% tổng thành phần loài, thích ứng với biên độ dao động lưu lượng từ 710 m3/s trong mùa khô đến 2.880 m3/s trong mùa mưa.

Thảo luận kết quả

Sự giàu có về thành phần loài tại cửa sông Cổ Chiên bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên thuận lợi, nơi dòng chảy phù sa sông Mê Kông mang theo lượng lớn chất hữu cơ hòa trộn với dòng triều mặn biển Đông. Khu vực rừng ngập mặn và bãi bồi ven cù lao Minh tạo thành nơi trú ẩn và kiếm ăn lý tưởng cho các loài cá non. So sánh qua chỉ số Stugren - Radulescu và Sorensen cho thấy khu hệ cá Cổ Chiên có mức độ tương đồng cao với cửa sông Định An và cửa sông Soài Rạp, phản ánh tính liên tục của khu hệ cá ven biển Tây Nam Bộ.

Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cơ cấu các bộ cá và bảng ma trận đối chiếu mức độ tương đồng sinh thái. Biểu đồ phân bố sinh cảnh làm nổi bật sự thay đổi tỷ lệ giữa nhóm cá nước ngọt và cá biển theo chu kỳ triều. Biến động thành phần loài qua các năm 2011, 2012 và 2015 phản ánh sự suy giảm nhẹ của một số loài cá tầng đáy có kích thước lớn, nguyên nhân trực tiếp do cường độ đánh bắt bằng lưới kéo đáy ven bờ quá mức trong thời gian dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Thiết lập khu vực cấm khai thác có thời hạn tại các bãi đẻ tự nhiên và vùng rừng ngập mặn ven cửa sông Cổ Chiên trong mùa sinh sản cao điểm từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, hướng đến mục tiêu phục hồi từ 15 đến 20% sinh khối cá giống thương phẩm vào năm 2025; cơ quan chủ trì thực hiện là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre phối hợp với chính quyền địa phương.

Chuyển đổi cơ cấu nghề cá thông qua gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ ngư dân nâng cấp công suất tàu thuyền từ dưới 90 CV lên trên 150 CV nhằm mở rộng ngư trường khai thác xa bờ, phấn đấu giảm 30% mật độ tàu thuyền khai thác tầng đáy ven bờ trong giai đoạn 2023 - 2028; đơn vị đầu mối là Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre kết hợp với các ngân hàng thương mại.

Siết chặt kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi sử dụng ngư cụ cấm như xung điện, chất độc và lưới kéo đáy có kích thước mắt lưới dưới 20 mm, đặt mục tiêu triệt xóa 100% các điểm khai thác mang tính hủy diệt trước năm 2026; lực lượng thực thi gồm Thanh tra chuyên ngành Thủy sản kết hợp Bộ đội Biên phòng tỉnh Bến Tre.

Phát triển mô hình kinh tế thủy sản sinh thái kết hợp nuôi tôm - rừng và bảo tồn bãi nghêu ven biển tại các huyện Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú, cam kết nâng cao thu nhập cho hơn 44.000 hộ kinh doanh thủy sản thêm 25% vào năm 2030; chủ thể thực hiện là các hợp tác xã thủy sản liên kết với các viện nghiên cứu khoa học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy sản: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng gồm 142 loài cá và số liệu đánh giá cường lực khai thác, phục vụ trực tiếp công tác xây dựng hạn ngạch đánh bắt và quy hoạch bảo tồn nguồn lợi thủy sản tỉnh Bến Tre.

Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Động vật học, Thủy sinh học và Sinh thái biển: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp hình thái so sánh của Pravdin, ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh thái Stugren - Radulescu và kỹ thuật khảo sát sinh học cửa sông vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế: Cung cấp thông tin thực địa giá trị về hiện trạng các loài nguy cấp như Cá Sủ giấy và Cá Đuối bướm đuôi hoa, hỗ trợ thiết kế các dự án bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển sinh kế bền vững lưu vực sông Mê Kông.

Doanh nghiệp và hợp tác xã khai thác, chế biến thủy hải sản ven biển: Cung cấp hiểu biết sâu sắc về chu kỳ xuất hiện, phân bố mùa vụ và đặc điểm sinh học của các nhóm cá kinh tế như họ cá Đù, họ cá Trích và họ cá Nục, giúp tối ưu hóa kế hoạch thu mua nguyên liệu và tổ chức khai thác đạt hiệu quả kinh tế cao.

Câu hỏi thường gặp

Khu hệ cá cửa sông Cổ Chiên có bao nhiêu loài và cấu trúc phân loại ra sao?

Nghiên cứu đã ghi nhận chính xác 142 loài cá thuộc 45 họ và 11 bộ thuộc 2 lớp cá Mang tấm và Vây tia. Trong đó, bộ cá Vược chiếm ưu thế vượt trội với hơn 50% tổng số loài, tiếp theo là các bộ cá Trích và bộ cá Nheo, phản ánh tính chất đa dạng điển hình của thủy vực cửa sông nhiệt đới.

Những loài cá quý hiếm nào được phát hiện tại khu vực nghiên cứu?

Đề tài ghi nhận 2 loài cá quý hiếm nằm trong danh mục ưu tiên bảo tồn gồm Cá Sủ giấy (Otolithoides biauritus) xếp hạng Sắp nguy cấp (VU) trong Sách Đỏ Việt Nam và Cá Đuối bướm đuôi hoa (Gymnura poecilura) thuộc nhóm Sắp bị đe dọa (NT) theo danh lục đỏ IUCN.

Yếu tố môi trường nào chi phối mạnh nhất đến sự phân bố thành phần loài cá?

Biến động lưu lượng dòng chảy từ 710 m3/s trong mùa khô lên 2.880 m3/s trong mùa mưa kéo theo sự thay đổi độ mặn từ 0,5 đến 32‰ là nhân tố quyết định. Sự phân hóa này thúc đẩy các loài cá rộng muối và cá di cư hai chiều chiếm hơn 65% thành phần loài tại đây.

Phương pháp nào được sử dụng để định loại cá trong nghiên cứu này?

Tác giả áp dụng phương pháp phân tích hình thái so sánh theo tiêu chuẩn Pravdin trên hơn 10 chỉ tiêu đo đếm hình thái học, kết hợp bộ khóa định loại chuyên ngành của FAO và Nakabo, đồng thời đối chiếu kiểm tra trên cơ sở dữ liệu FishBase để xác định tên khoa học chính xác.

Nguyên nhân chính gây suy giảm nguồn lợi cá tại cửa sông Cổ Chiên là gì?

Nguyên nhân cốt lõi là áp lực khai thác quá mức từ đội tàu cá nhỏ dưới 90 CV hoạt động dày đặc ở vùng ven bờ, kết hợp việc lạm dụng ngư cụ tận diệt như cào đáy và lưới mắt nhỏ làm cạn kiệt nguồn cá giống và suy thoái nơi cư trú tự nhiên.

Kết luận

Xác lập danh mục chuẩn mực gồm 142 loài cá thuộc 45 họ và 11 bộ tại vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre.

Làm rõ tính ưu thế của bộ cá Vược cùng các họ cá kinh tế quan trọng như Gobiidae, Sciaenidae và Clupeidae.

Ghi nhận sự có mặt của các loài có giá trị bảo tồn cao trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục IUCN như Cá Sủ giấy và Cá Đuối bướm đuôi hoa.

Phân tích toàn diện tác động của dao động dòng chảy thủy văn từ 710 đến 2.880 m3/s đến tập tính di cư và phân bố sinh thái của khu hệ cá.

Chỉ rõ nguy cơ suy thoái nguồn lợi từ đội tàu công suất nhỏ dưới 90 CV, đặt nền tảng cho các giải pháp chuyển đổi nghề cá giai đoạn 2025 - 2030.

Luận văn đóng góp bộ cơ sở dữ liệu phân loại học hoàn chỉnh và luận cứ khoa học tin cậy cho công tác quản lý tài nguyên thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần triển khai ngay chương trình quan trắc định kỳ và quy hoạch khu bảo tồn bãi đẻ tự nhiên. Hãy chung tay thúc đẩy các giải pháp khai thác bền vững nhằm bảo vệ đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản cho thế hệ tương lai.