CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG VÀ HỖ TRỢ CHO NGƯỜI DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam 1. Khái quát về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Theo Luật Đất đai 2013 thì các khái niệm liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được phát biểu như sau [17]: Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.
Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất. Những quy định pháp luật cơ bản về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam 1. Quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam từ trước khi có Luật đất đai 2003 Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, nước ta tiến hành xóa bỏ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân và ban hành Hiến pháp năm 1959, theo đó Nghị định số 151/TTg ra ngày 15 tháng 04 năm 1959 của Hội đồng Chính phủ đã quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất trong đó có quy định về bồi thường thiệt hại về đất. Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 151/TTg, Liên bộ Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Nội vụ đã ban hành Thông tư liên bộ số 1424/TT-LB ngày 06/7/1959 đã quy định cụ thể về bồi thường khi nhà nước trưng dụng ruộng đất.
Hiến pháp năm 1980 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất, quản lý”. Theo đó, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất đã quy định rõ hơn các chức năng quản lý nhà nước về đất đai. Về chính 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sách thu hồi, bồi thường, Quyết định 201/Chính phủ cũng đã quy định rõ “Cấp nào có quyền giao đất thì cấp ấy có thẩm quyền thu hồi đất” đồng thời cũng quy định rõ người có đất bị thu hồi, trưng dụng mà cần có đất sử dụng thì được cấp đất khác và tài sản được bồi thường thích đáng. Luật Đất đai năm 1987 được ban hành, tiếp tục khẳng định lại đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
Về việc thu hồi đất thì Luật Đất đai năm 1987 quy định tại điều 14 và điều 15 là quy định “cơ quan nào nhà nước nào có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó”. Phần đền bù cho người sử dụng đất được nêu tại điều 48 khoản 4 như sau: “Đền bù thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của Pháp luật”. Về vấn đề này, do Luật Đất đai 1987 không thừa nhận đất có giá nên khi giao đất, Nhà nước không thu tiền sử dụng đất. Vì vậy, khi thu hồi đất, Nhà nước cũng không bồi thường về đất, chỉ bồi thường về tài sản trên đất.
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993. Tại điều 26, điều 27 và điều 28 quy định việc thu hồi đất và thẩm quyền cơ quan nhà nước quyền thu hồi đất. Đặc biệt Luật Đất đai 1993với quy định “đất có giá” và người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường GPMB của Luật Đất đai năm 1993. Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường GPMB đã được ban hành như: - Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất.
- Nghị định 90/CP ngày 17/9/1994 quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường GPMB. Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất… - Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Nghị định số 22 quy định chi tiết và nhấn mạnh đến tính hợp pháp của đối tượng đền bù. Đối với mức đền bù thiệt hại về đất, Nghị định quy định phải căn cứ trên giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K để đảm bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương, tức là đã quan tâm ít nhiều đến yếu tố thị trường.
Giá đất đền bù do Chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định cho từng dự án theo đề nghị của Sở Tài chính - Vật giá. Ngoài tiền đền bù đất và tài sản, Nhà nước còn có chính sách hỗ trợ. Nghị định cũng quy định lập khu tái định cư có cơ sở hạ tầng thích hợp để bố trí đất ở cho các hộ phải di chuyển. Về phân cấp tổ chức thực hiện thu hồi đất, Nghị định đã quy định chi tiết về phân cấp tổ chức thực hiện thu hồi đất.
- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế độ quản lý, phương án bồi thường và một số nội dung khác. - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/06/2001 quy định cụ thể hơn về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất đai đang sử dụng của người sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi.
Quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ ở Việt Nam từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay Luật Đất đai 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Luật Đất đai năm 2003 có rất nhiều nội dung mới trong đã có vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như: Nhà nước hạn chế thu hồi đất mà khuyến khích các nhà đầu tư tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xin chuyển mục đích sử dụng đất đã giảm áp lực cho chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Từ khi ban hành Luật Đất đai 2003 đến nay,nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và cụ thể hoá các nội dung về thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành hàng loạt các Nghị định, Thông tư trực tiếp liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ như: Nghị định số 181/2004, Nghị định số 17/2006, Thông tư số 145/2007, Thông tư số 14/2009.
Đặc biệt khi Luật Đất đai 2013 ra đời đã quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất đến bồi thường, hỗ trợ đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội. * Những điểm mới của Luật Đât đai 2013 so với Luật Đất đai 2003 về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất Thu hồi đất - Về các trường hợp thu hồi đất: Từ 12 trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai 2013 bổ sung trường hợp thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đồng thời chia thành 04 nhóm để có quy định riêng về cơ chế xử lý đất thu hồi, tài sản trên đất thu hồi phù hợp với tính chất của từng nhóm, gồm: + Nhóm 1: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61 Luật Đất đai 2013); + Nhóm 2: Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 62 Luật Đất đai 2013); + Nhóm 3: Thu hồi đất do vi phạm pháp luật (Điều 64 Luật Đất đai 2013); đặc biệt đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng, Luật Đất đai quy định chế tài mạnh để xử lý đối với các trường hợp này; cụ thể Luật quy định: “Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.