CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẢM BẢO SINH KẾ 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢM BẢO SINH KẾ 1. Khái niệm sinh kế Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế đưa vào thực hiện.
Có nhiều khái niệm liên quan đến sinh kế. Có thể hiểu sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những hoạt động và những quyết định mà họ sẽ thực hiện để kiếm sống và đạt đến những mục tiêu đa dạng hơn. Nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng. (Nguyễn Văn Sửu, 2010) Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình cần có các kế sách sinh nhai khác nhau.
Chiến lược sinh kế của hộ là quá trình đưa ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, sự phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ. Theo khung phân tích sinh kế của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID), sinh kế được hiểu là: Sinh kế bao gồm các khả năng tài sản (nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một trong những con đường để hiểu một hệ thống sinh kế là phân tích chiến lược sử dụng nguồn lực sinh kế cũng như cách thức chống đỡ và thích ứng của cá nhân và cộng đồng đó đối với các tác động bất thường từ bên ngoài (Balgis, 2005). Khái niệm cơ hội sinh kế - Cơ hội là những điều kiện thuận lợi từ bên ngoài đưa đến cho cộng đồng, tạo điều kiện cho cộng đồng phát triển khi kết hợp tốt với các nguồn lực sẵn có.
5 van - Cơ hội có thể hiểu là tất cả những gì mà con người có khả năng huy động để thỏa mãn mục đích của mình. Nó có thể là những điều kiện thuận lợi sẽ đem lại những kết quả tốt nếu con người biết tận dụng hợp lý. Kết hợp khái niệm cơ hội với khái niệm sinh kế, khái niệm về cơ hội sinh kế được hiểu là: - Cơ hội sinh kế là những khả năng của con người, của hộ về nguồn lực sinh kế, khả năng kết hợp các nguồn lực này trong các hoạt động sinh kế để nhằm mục tiêu vượt qua những áp lực, cú sốc và duy trì hoặc nâng cao khả năng cũng như tài sản ở cả hiện tại và tương lai nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến cơ sở tài nguyên tự nhiên. - Cơ hội sinh kế được hiểu là trên cơ sở những nguồn lực, điều kiện và khả năng mà người dân có được, cũng như điều kiện thuận lợi do bên ngoài đưa đến thì người dân sẽ có được những hoạt động, những quyết định để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu, ước nguyện của họ.
Chiến lược sinh kế Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Chambers, R. Chiến lược sinh kế là quá trình đưa ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ (Seppala, 1996). Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn.
Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó. 6 van Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau. Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ. Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ.
Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau: – Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người. Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn. – Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ.
Chúng bao gồm uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ. – Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v. Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên. Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ.
– Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin v. – Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng. Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng. 7 van Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; Các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin.
Sinh kế bền vững Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rũi ro và những cú sốc, duy trì và tăng cường khả năng tài sản, đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng và toàn cầu trong ngắn hạn và dài hạn. Sinh kế bền vững cung cấp một phương pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ hơn với vấn đề nghèo đói. Mô hình khung sinh kế Khung phân tích sinh kế là một công cụ được sử dụng để đánh giá, phân tích sinh kế của người dân. Áp dụng khung phân tích sinh kế sẽ nắm vững các yếu tố tác động đến sinh kế của người dân cũng như mối quan hệ tác động giữa các yếu tố.
Ghi chú: H: Nguồn vốn con người S: Nguồn vốn xã hội N: Nguồn vốn tự nhiên P: Nguồn vốn vật chất F: Nguồn vốn tài chính TÀI SẢN SINH KẾ Chính sách, cơ quan, Kết quả sinh kế thủ tục Bối cảnh dễ bị Cơ quan -Thu nhập tăng H tổn thương Ảnh hưởng -Các cấp chính CÁC CHIẾN LƯỢC SINH KẾ -Đời sống nâng cao và các quyền -Tính bền vững cao -Các cú sốc S N nguồn tiếp -Lĩnh vực -Luật -An ninh lương thực -Các xu hướng cận tư -Chính đảm bảo -Tinh mùa vụ sách -Sử dụng đất lâu dài -Văn hóa P F Thể chế Thực hiện Nguồn: DFID,sustainable livelihoods guidance sheets, 1999 Hình 1. Mô hình khung sinh kế 8 van a. Các thành phần chính của khung sinh kế Khung sinh kế bao gồm năm phần chính: Bối cảnh dễ bị tổn thương, tài sản sinh kế, chính sách và thể chế, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. Nguồn vốn con người: Vốn con người đại diện cho các kỹ năng, kiến thức, sức khỏe lao động và cùng đảm bảo cho mọi người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế của họ.
Tại một hộ gia đình mức vốn con người là một yếu tố số lượng và chất lượng lao động sẵn có, điều này thay đổi tùy theo quy mô hộ gia đình, trình độ kỹ năng, tiềm năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe, v. Vốn con người giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong các nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình. Nó quyết định việc tạo ra cũng như sử dụng cả bốn nguồn lực sinh kế còn lại của hộ gia đình. Vốn con người sẽ được nâng cao thông qua giáo dục (các khóa đào tạo, trường học) tiếp cận các dịch vụ phòng ngừa y tế, v.
Là nguồn lực lao động, bao gồm số lượng và chất lượng (như kỹ năng, tay nghề, sự am hiểu kỹ thuật canh tác, kiến thức bản địa, sức khỏe, tập quán lao động, siêng năng hay lười biếng) (Flitch, 2012). Nguồn vốn tự nhiên: Vốn tự nhiên được hiểu là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, vật nuôi, cây trồng, mùa màng. Những biến động của nguồn lực tự nhiên thường tác động lớn đến sinh kế của người dân. Trong các chương trình di dân tái định cư, chính việc di chuyển dân làm thay đổi các nguồn lực tự nhiên của người dân, dẫn đếnlàm thay đổi sinh kế của họ.