Chương 1 TÔNG QUAN 1. Các van đề về quyền sử dụng dat và thu hồi dat 1. Sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất 1. Sở hữu đất đai Theo Điều 4 luật Dat đai 2013 quy định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này". Qua đó, ta có thé hiểu nội dung mang tính chất nội hàm của hình thức sở hữu đất đai tại Việt Nam. Thứ nhất: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, hình thức sở hữu này không chỉ phù hợp với một trong những đặc diém của mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa, đó là: Chế độ công hữu được xác lập đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu), mà còn phù hợp với thực tế lịch sử toàn dan đã đoàn kết dau tranh dé giành lại toàn vẹn lãnh thổ của nước ta ngay nay. Thứ hai: Nhà nước là chủ thé đại điện cho toàn dân dé thực hiện các quyền của chủ sở hữu và thống nhất quản ly dat đai, toàn dan là một phạm trù chủ thê rất rộng, do đó, đề thực hiện được quyền của chủ sở hữu cần phải thông qua một phương thức đặc biệt.
Nhà nước ta được thành lập với tính chất là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, với hệ thống các cơ quan quản lý được tô chức chặt chẽ chính là phương thức để quyền sở hữu đất đai của toàn dân được thực hiện. Người dân không chỉ trực tiếp bầu ra Quốc hội — co quan lập pháp mà còn có quyền giám sát đối với các hoạt động của Nhà nước để đảm bảo Nhà nước thực hiện đúng những quyên hạn và trách nhiệm của mình. Thứ ba: Người sử dụng đất (các tổ chức, cá nhân.) không có quyền sở hữu đất mà chỉ có quyền sử dụng đất. Quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân và do Nhà nước là chủ thé đại diện thực hiện quyền năng đó nên người sử dung đất không thé có quyền sở hữu đối với đất.
Tuy nhiên, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. mới là những chủ thé sử dung đa phần diện tích đất đai trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, các chủ thể này được Nhà nước trao “quyền sử dụng đất”; “quyền sử dụng đất” cũng được Bộ luật dân sự xác định là một dạng tài sản của các chủ thê sử dụng đất. Quyền sử dung dat Sử dụng dat là tác động vào đất đai nhằm mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội.
Quá trình sử dụng đất bao gồm phạm vi sử dụng đất, cơ cầu và phương thức sử dụng. luôn luôn chịu sự chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên cũng như chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Quyền sử dụng đất là toàn bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó quy định việc bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng. “Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thé khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng dat” (theo điều 688 Bộ Luật Dân sự).
Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất ngày càng trở nên được coi trọng, khi quan hệ đất đai ngày càng mở rộng và đang xen phức tạp vào mọi hoạt động kinh tế xã hội như hiện nay thì sự phối hợp giữa cơ chế sở hữu và cơ chế sử dụng đất trở thành một van đề nóng hồi, nảy sinh nhiều van đề khó khăn. Vì thế tìm ra một cơ chế phối hợp quyên sở hữu và quyên sử dụng đất hợp lý đảm bảo hài hòa các lợi ích là rat cần thiết, và nếu dat được điều đó thì sẽ thúc đây nền kinh tế phát triển và xã hội ôn định. Ngược lại nếu chúng ta không có cơ chế hợp lý sẽ kim hãm sự vận động quan hệ đất đai tat yếu sẽ phát sinh mâu thuẫn gây cản trở cho bước tiến của nén kinh tế - xã hội đất nước. Vấn đề thu hồi đất 1.
Khái niệm và đặc điểm Thu hồi dat là việc Nha nước ra quyét định thu lại quyền sử dụng đất của người được nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định của Luật Đất đai 2013 (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 2014). Về ban chất, thu hồi đất chính là việc chuyển quyền sử dụng đất theo một cơ chế bắt buộc thông qua biện pháp hành chính. Việc thu hồi đất có những đặc điểm sau đây: - Xảy ra theo một yêu cầu cụ thê (thu hồi đất do nhu cầu vì lợi ích chung) hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể (do vi phạm pháp luật về đất đai; do không còn nhu cầu sử dụng đất). -Việc thu hồi đất phải bằng một quyết định hành chính cụ thể, trong đó phải thé hiện rõ vị trí, điện tích, loại đất bị thu hồi; tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân có dat bị thu hồi.
Quyết định thu hồi đất được ban hành bởi một cơ quan hành chính có thâm quyên theo luật định (UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện). - Được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ và được quy định riêng đối với từng trường hợp. Mỗi trường hợp thu hồi đất có sự khác nhau về căn cứ để thu hồi, về trình tự, thủ tục thu hồi, về chính sách bồi thường khi thu hồi dat. Các trường hợp thu hồi dat Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, được thé quy định cụ thé tại điều 61 và điều 62 Luật Dat dai 2013: a.
Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh được quy định tại điều 61: Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh trong các trường hợp sau đây: - Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc; - Xây dựng căn cứ quân su; - Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; - Xây dựng ga, cảng quân su; - Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh; - Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân; - Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; - Xây dựng cơ sở đảo tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân; - Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; - Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý. Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được quy định cụ thể tại điều 62: Nhà nước thu hồi dat dé phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây: - Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất; - Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm: + Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn von hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); + Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tô chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; + Dự án xây dựng kết cấu hạ tang kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dau, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải; - Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm: + Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương; + Dự án xây dựng kết cau hạ tang kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải; + Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; + Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; + Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thầm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản. Bồi thường — hỗ trợ Theo khoản 12 điều 3 Luật Dat dai năm 2013: “Boi thường về dat là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng dat đối với diện tích dat thu hôi cho người sử dụng dat’. Khi được Nhà nước trao quyền sử dụng đất thì người dân sẽ sử dụng ồn định, sản xuất và đầu tư trên đất để mang lại hiệu quả kinh tế.
Nếu Nhà nước thu hồi đất thì phải bồi thường trả lại giá trị mà người sử dụng đất đã đầu tư trên đất sao cho họ 6n định cuộc sống, đem lại sự phát trién bền vững cho quốc gia. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất - Theo khoản 14 điều 3 Luật Dat dai 2013: “Ho trợ khi Nhà nước thu hoi dat là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hôi dé ổn định đời sống, sản xuất và phat triển”.