Chương 1. Tổng quan: Trin ̀ h bày tóm lươ ̣c vấ n đề nghiên cứu, mu ̣c tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đố i tươ ̣ng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kế t cấ u của luận văn. Cơ sở lý thuyết : Trình bày tổng quan các lý thuyết về thu nhập, thu hồi đất và khung sinh kế bền vững. Thiết kế nghiên cứu: Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu có liên quan, chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu cho mô hình nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu: Thống kê, mô tả, phân tích dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích của mô hình hồi quy kinh tế lượng; xác định các yếu tố tác động đến thay đổi thu nhập của các hộ dân, kiểm định mô hình và dự báo thu nhập. Kết luận, gợi ý chính sách: Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả gợi ý một số chính sách nhằm giúp hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu tăng thu 7 nhập và phát triển kinh tế của địa phương. Đồng thời, cuối chương này cũng nêu ra những hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Khái niệm về thu nhập và thu nhập hộ gia đình 2. Thu nhập Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay một hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa như sau: - Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. - Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.
Theo Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Thu nhập hộ gia đình Singh và cộng sự (1986) cho rằng: Thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp. Tổng cục Thống kê (2010), định nghĩa cụ thể hơn: thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. Theo Tổng cục Thống kê (2010), thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm.
Thu nhập của hộ bao gồm: Thu nhập từ tiền công, tiền lương; thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, 9 thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); thu khác được tính vào thu nhập như thu cho, biếu, mừng, lãi tiết kiệm… Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh … Nguyễn Hải (1995), cho rằng thu nhập bao gồm các khoản thu được do lao động như tiền lương, tiền công, thù lao lao động, thu nhập bằng tiền và hiện vật trong kinh tế hộ gia đình. Các khoản thu nhập nhận được ngoài lao động bao gồm các khoản phụ cấp hưu trí, thương tật, ốm đau, thai sản, an dưỡng, học bổng, các khoản chuyển nhượng, trúng xổ số, lãi tiết kiệm. Theo tác giả, thu nhập hộ gia đình ở vùng nghiên cứu chính là số tiền và hiện vật (như lúa, gạo.) của tất cả các thành viên trong gia đình có thể tạo ra. Riêng vùng chuyên sản xuất lúa thì thu nhập thường được tính trên một vụ (90 ngày).
Khái niệm về đất đai và phân tích Luật Đất đai trong việc thu hồi đất của người dân 2. Khái niệm về đất đai Đất đai có rất nhiều định nghĩa: - Đối với nhà địa lý nó là cảnh quan, một sản phẩm của quá trình địa chất địa mạo. - Đối với nhà kinh tế nó là nguồn tài nguyên cần được khai thác hoặc cần được bảo vệ để đạt được những phát triển kinh tế tối ưu. - Đối với những luật gia đất đai là một khoảng không gian trải dài vô tận từ trung tâm trái đất tới vô cực trên trời và liên quan đến nó là một loạt các quyền lợi khác nhau quyết định những gì có thể thực hiện được với đất.
- Đối với hầu hết mọi người hiểu theo một cách đơn giản nó là khoảng không gian cho các hoạt động con người được thể hiện ở nhiều dạng sử dụng đất khác 10 nhau. Ngày nay đất đai bao gồm các vật thể được gắn liền trực tiếp với bề mặt đất, kể cả những vùng bị nước bao phủ. Nó bao gồm vô số các tính chất tự nhiên trừu tượng, từ các quyền lợi đối với sự phát triển hay xây dựng trên đất, đối với nước ngầm và khoáng sản và các quyền lợi liên quan đến việc sử dụng và khai thác chúng. Theo Luật Đất đai năm 2003 thì đất đai được phân loại dựa vào tiêu chí về mục đích sử dụng đất và được phân loại bao gồm nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa xác địch mục đích sử dụng.
Theo Luật đất đai năm 2003: - Nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp. - Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất: + Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị. + Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp. + Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm. + Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thủy lợi; đất xây dựng các công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng, đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ. + Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng. 11 + Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
+ Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa. + Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng. Phân tích Luật Đất đai trong việc thu hồi đất của người dân Theo như Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992) khẳng định quyền của công dân được sử dụng và bảo vệ quyền sử dụng đất. Đồng thời, chính phủ cũng đã ban hành nhiều luật, nghị định, các quy định pháp lý làm cơ sở cho việc hình thành khung chính sách về thu hồi, đền bù, tái định cư.
Chính sách thu hồi đất làm cho người dân có nhiều thay đổi về sinh kế sống về mặt kinh tế, xã hội, môi trường sống. Luật Đất đai năm 2003 đã quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất (Điều 38); thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (Điều 39), phát triển kinh tế (Điều 40); việc thu hồi đất và quản lý quỹ đất đã thu hồi (Điều 41); bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi (Điều 42); những trường hợp thu hồi đất mà không bồi thường; thẩm quyền thu hồi đất (Điều 44); nguyên tắc xác định giá đất (khoản 1, Điều 56). Nhìn chung, những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình thu hồi đất, từng bước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường, đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất. Việc tổ chức thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung tâm phát triển quỹ đất bước đầu đã phát huy hiệu quả, góp phần đáp ứng nhu cầu “đất sạch” để thực hiện các dự án đầu tư.
Cơ chế tự thỏa thuận đã tạo điều kiện cho nhà đầu tư chủ động quỹ đất thực hiện dự án, rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng, giảm tải gánh nặng cho các cơ quan có thẩm quyền trong thu hồi đất. Tuy nhiên, quá trình thực hiện thu hồi đất hiện nay cho thấy còn nhiều vướng mắc, đó là: - Về trường hợp thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế: Luật đất đai 2003 quy định Nhà nước thu hồi đất ngoài mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc 12 gia, lợi ích công cộng, còn có thể thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế. Quy định này đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thu hồi đất một cách ồ ạt, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp dịch vụ, khu dân cư nông thôn, đô thị… Nhiều doanh nghiệp không có kinh nghiệm, năng lực tài chính lợi dụng quy định này để “giữ đất”, “ôm đất”, “chạy dự án” để bán dự án kiếm lời. Nhiều dự án “treo” cũng sinh ra từ đây.
Trong khi người dân bị thu hồi đất không có đất để sinh sống và sản xuất, phải di cư tự phát tới các đô thị làm thuê hoặc đi xuất khẩu lao động. - Về cơ chế thu hồi đất: Luật Đất đai 2003 cho phép áp dụng hai cơ chế: một là, Nhà nước thu hồi đất; hai là, tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất. Điều này tạo ra sự chênh lệch lớn về giá đất khi thu hồi, tạo ra sự bất bình đẳng trong việc bồi thường cho người sử dụng đất, gây nên nhiều tranh chấp, khiếu kiện về đất đai.