Tổng quan nghiên cứu
Thực trạng giảm nghèo bền vững tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những thách thức kinh tế và an sinh xã hội hàng đầu tại Việt Nam. Nghiên cứu trường hợp tại xã An Phú, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội phản ánh bức tranh thực tiễn rõ nét về vấn đề này. Xã An Phú sở hữu tổng diện tích tự nhiên 2.227 ha với dân số 8.875 người, trong đó 75% là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Mường sinh sống dựa vào nông nghiệp. Giai đoạn 2012 - 2015, công tác giảm nghèo tại địa phương đạt kết quả ban đầu khi tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 24,5% năm 2012 xuống còn 12% năm 2015. Tuy nhiên, khi chuyển đổi sang chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều vào năm 2016, số lượng hộ nghèo đã tăng vọt lên 710 hộ, chiếm 38,4% tổng số hộ trên toàn xã.
Vấn đề cốt lõi mà đề tài tập trung giải quyết là nguy cơ tái nghèo cao, sinh kế thiếu bền vững và sự thiếu kết nối giữa các nguồn lực hỗ trợ tại chỗ. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm nhận diện thực trạng nghèo đói, xác định nhu cầu thiết yếu của 710 hộ nghèo tại 13 thôn xóm và khảo sát toàn diện hệ thống nguồn lực sẵn có. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng mô hình can thiệp liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng dưới góc độ công tác xã hội chuyên nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn của công trình được lượng hóa cụ thể thông qua việc hỗ trợ chính quyền địa phương tái cơ cấu nguồn vốn tín dụng chính sách, đề xuất mô hình sinh kế tạo việc làm giúp gia tăng từ 30% đến 40% thu nhập cho các hộ nghèo tham gia mô hình thí điểm, đồng thời tạo tiền đề hạ tỷ lệ nghèo đa chiều của toàn xã xuống mức dưới 15% trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết nền tảng trong khoa học xã hội và công tác xã hội để giải quyết bài toán giảm nghèo:
Lý thuyết phát triển cộng đồng của Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang và Phan Huy Đường đặt người dân làm trung tâm của mọi tiến trình phát triển. Lý thuyết nhấn mạnh nguyên tắc trao quyền, khơi dậy nội lực tiềm năng và thúc đẩy sự tham gia chủ động của các nhóm yếu thế thay vì thụ động nhận cứu trợ.
Lý thuyết liên kết nguồn lực trong công tác xã hội định vị nhân viên xã hội là cầu nối gắn kết các tiểu hệ thống rời rạc gồm chính quyền, mạng lưới dòng họ, tổ chức đoàn thể và doanh nghiệp thành một khối thống nhất vận hành vì mục tiêu an sinh.
Nghiên cứu sử dụng 4 khái niệm then chốt: Nghèo đa chiều theo tinh thần Quyết định 59/2015/QĐ-TTg và Quyết định 1614/QĐ-TTg; Hộ nghèo nông thôn; Nguồn lực cộng đồng bao gồm vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội; Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp kết hợp phân tích định lượng và nghiên cứu định tính chuyên sâu. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ bộ dữ liệu điều tra rà soát hộ nghèo năm 2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trên địa bàn xã An Phú, bao gồm dữ liệu từ Phiếu C thu thập đặc điểm hộ nghèo và Phiếu D khảo sát nhu cầu hỗ trợ thoát nghèo của 710 hộ dân.
Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 20 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, trong đó có 10 hộ đang nghèo, 5 hộ đã thoát nghèo thành công và 5 cán bộ đại diện Ủy ban nhân dân, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân xã An Phú.
Đồng thời, tác giả thực hiện 1 cuộc thảo luận nhóm tập trung với 7 thành viên đại diện đa dạng gồm 2 chủ hộ nghèo, 2 cá nhân làm kinh tế giỏi, 1 cán bộ phụ nữ, 1 chủ doanh nghiệp và 1 cán bộ phụ trách giảm nghèo xã. Phương pháp quan sát tham dự được thực hiện trực tiếp tại nơi ở và sinh hoạt của các hộ dân ở toàn bộ 13 thôn xóm.
Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê về mặt số liệu kinh tế, đồng thời đào sâu vào các rào cản tâm lý, tập quán canh tác truyền thống và nguyện vọng thực sự của đồng bào dân tộc Mường bản địa.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thực trạng nghèo đa chiều nghiêm trọng: Năm 2016, toàn xã có 710 hộ nghèo, chiếm 38,4% dân số. Trong đó, trên 75% chủ hộ nghèo là người dân tộc Mường có trình độ học vấn thấp và thiếu hụt kỹ năng lao động hiện đại.
Thiếu hụt điều kiện sinh hoạt và tư liệu sản xuất: Kết quả khảo sát cho thấy hơn 60% hộ nghèo rơi vào tình trạng thiếu đất canh tác màu mỡ, thiếu vốn lưu động và không có công cụ sản xuất chuyên dụng. Tỷ lệ tiếp cận nước sạch sinh hoạt và nhà vệ sinh hợp chuẩn của các hộ nghèo chỉ đạt mức dưới 45%, tạo nên vòng lặp luẩn quẩn giữa điều kiện sống kém, bệnh tật và suy giảm sức lao động.
Sự phân tán và kém hiệu quả của các nguồn lực trợ giúp: Mặc dù Ngân hàng Chính sách Xã hội và các hội đoàn thể đã triển khai các gói vay vốn, mức tăng thu nhập bình quân của nhóm vay vốn tại địa phương chỉ đạt khoảng 8% đến 10% mỗi năm, thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng 29% đến 46% được ghi nhận trong các nghiên cứu tín dụng vi mô quốc tế. Nguyên nhân là do vốn vay bị sử dụng sai mục đích hoặc thiếu kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt đi kèm.
Nhu cầu chuyển đổi sinh kế có tính tập trung cao: Khoảng 85% hộ nghèo được phỏng vấn bày tỏ nguyện vọng được hỗ trợ kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, cải tạo vùng đất trũng ngập nước và liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm đầu ra.
Thảo luận kết quả
Thực trạng đói nghèo tại xã An Phú bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa chính sách hỗ trợ và năng lực tiếp nhận của người dân. Tâm lý trông chờ vào trợ cấp của Nhà nước cùng với rào cản về giao thông cách trở làm hạn chế khả năng giao thương. Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ hình cột so sánh biến động tỷ lệ hộ nghèo xã An Phú qua các mốc 24,5% năm 2012, 12% năm 2015 và 38,4% năm 2016 theo chuẩn nghèo đa chiều. Đồng thời, một bảng thống kê đối chiếu 10 chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản tại 13 thôn xóm sẽ làm nổi bật mức độ thiếu hụt nghiêm trọng về thông tin và bảo hiểm y tế.
So sánh với các nghiên cứu của Lê Xuân Bá, Phạm Quý Thọ và báo cáo của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2011, luận văn khẳng định việc chỉ cung cấp nguồn vốn đơn lẻ mà không có sự đồng hành của nhân viên công tác xã hội để kết nối kỹ thuật và thị trường sẽ dẫn đến tỷ lệ tái nghèo lên tới 20% đến 30%. Vai trò của nhân viên công tác xã hội chính là chất xúc tác gắn kết 4 trụ cột: Chính quyền xã cung cấp cơ chế; Ngân hàng cung ứng vốn; Hội Phụ nữ, Hội Nông dân hỗ trợ giám sát kỹ thuật; Doanh nghiệp đảm bảo bao tiêu sản phẩm.
Đề xuất và khuyến nghị
Thiết lập mô hình thí điểm liên kết nuôi cá thương phẩm tại các vùng đất trũng: Ủy ban nhân dân xã An Phú phối hợp với Hội Nông dân và các doanh nghiệp chế biến thủy sản tổ chức vùng nuôi cá tập trung. Mục tiêu giúp 50 hộ nghèo đầu tiên gia tăng thu nhập tối thiểu 35% sau chu kỳ nuôi 12 tháng, triển khai hoàn tất trong giai đoạn 2017 - 2018.
Đổi mới cơ chế cho vay và giám sát sử dụng vốn của Ngân hàng Chính sách Xã hội: Hội Liên hiệp Phụ nữ xã và tổ tiết kiệm vay vốn xây dựng quy trình giải ngân vốn vay gắn liền với phương án sản xuất khả thi. Chỉ tiêu giải ngân vốn đạt 100% cho 300 hộ nghèo có nhu cầu chính đáng, đồng thời duy trì tỷ lệ nợ quá hạn dưới mức 1% trong suốt giai đoạn 2017 - 2020.
Tổ chức các khóa đào tạo nghề ngắn hạn và chuyển giao khoa học kỹ thuật tại chỗ: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Mỹ Đức liên kết với các trung tâm dạy nghề mở các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt thích ứng biến đổi khí hậu cho 200 lao động thuộc hộ nghèo mỗi năm, cam kết tỷ lệ có việc làm hoặc tự tạo việc làm đạt trên 80%.
Nâng cao nhận thức cộng đồng và phát huy vai trò nhân viên công tác xã hội: Đội ngũ cán bộ xã hội địa phương triển khai các hoạt động tham vấn tâm lý, tổ chức sinh hoạt nhóm tương trợ tại 13 thôn xóm nhằm xóa bỏ tư tưởng tự ti, ỷ lại, nâng cao chỉ số tự lực vươn lên thoát nghèo của 100% hộ dân trên địa bàn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp cơ sở: Luận văn cung cấp khung phương pháp đánh giá nghèo đa chiều chuẩn xác và các giải pháp điều phối nguồn lực thực tế cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện trong công tác lập kế hoạch giảm nghèo hàng năm.
Nhân viên công tác xã hội và cán bộ phát triển cộng đồng: Tài liệu cung cấp cẩm nang thực hành về kỹ năng làm việc nhóm, phỏng vấn sâu, tham vấn và thiết lập mạng lưới liên kết giữa các tổ chức đoàn thể với đối tượng yếu thế.
Các tổ chức phi chính phủ và tổ chức thiện nguyện: Các đơn vị tài trợ có thể sử dụng dữ liệu chi tiết về đặc điểm nhân khẩu, văn hóa của người Mường tại xã An Phú làm căn cứ thiết kế các dự án tài trợ sinh kế, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.
Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Xã hội: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu tình huống, kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội kết hợp lý thuyết phát triển cộng đồng trong thực tiễn Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao tỷ lệ hộ nghèo tại xã An Phú lại tăng mạnh từ 12% năm 2015 lên 38,4% năm 2016? Sự gia tăng này bắt nguồn từ việc chuyển đổi phương pháp đánh giá từ chuẩn nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập sang chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, làm bộc lộ toàn bộ các thiếu hụt nghiêm trọng về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin của 710 hộ dân.
Mô hình liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng có điểm gì khác biệt so với các chương trình hỗ trợ truyền thống? Khác với phương thức cứu trợ thụ động một chiều từ trên xuống, mô hình này trao quyền cho người dân tự xác định nhu cầu, đồng thời nhân viên công tác xã hội kết nối nguồn vốn vay, kỹ thuật nông nghiệp và đầu ra doanh nghiệp thành một chuỗi hỗ trợ khép kín, bền vững.
Tại sao nuôi cá thương phẩm lại được chọn làm mô hình sinh kế trọng điểm tại xã An Phú? Xã An Phú sở hữu điều kiện tự nhiên với nhiều diện tích trũng ngập nước thích hợp cho thủy sản. Khảo sát nhu cầu cho thấy 85% hộ nghèo mong muốn chuyển đổi diện tích trũng kém hiệu quả sang nuôi cá thương phẩm nhằm tạo nguồn thu nhập ổn định và nhanh chóng.
Làm thế nào để khắc phục tình trạng sử dụng vốn vay sai mục đích ở các hộ nghèo? Giải pháp then chốt là gắn kết chặt chẽ quy trình giải ngân vốn của Ngân hàng Chính sách Xã hội với hoạt động giám sát của Hội Phụ nữ và các khóa tập huấn kỹ thuật chăn nuôi tại chỗ, đảm bảo từng đồng vốn vay đều đi kèm kế hoạch sinh kế rõ ràng.
Đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương có những rào cản đặc thù nào trong quá trình giảm nghèo? Khoảng 75% chủ hộ nghèo là người Mường với rào cản lớn nhất là trình độ học vấn còn hạn chế, tập quán canh tác tự cung tự cấp và tâm lý e ngại tiếp cận các thủ tục hành chính, đòi hỏi nhân viên xã hội phải kiên trì đồng hành và hướng dẫn trực quan.
Kết luận
Đánh giá chính xác thực trạng nghèo đa chiều tại xã An Phú với 38,4% dân số tương ứng 710 hộ nghèo năm 2016, chỉ rõ các nguyên nhân gốc rễ về thiếu hụt tư liệu sản xuất và sinh kế.
Hệ thống hóa và vận dụng thành công lý thuyết phát triển cộng đồng cùng các nguyên tắc công tác xã hội vào thực tiễn giảm nghèo tại vùng đồng bào dân tộc Mường.
Đóng góp hệ thống dữ liệu thực nghiệm giá trị thông qua 20 cuộc phỏng vấn sâu, 1 cuộc thảo luận nhóm tập trung và phân tích chi tiết dữ liệu khảo sát thực địa tại 13 thôn xóm.
Xây dựng thành công mô hình can thiệp liên kết nguồn lực thí điểm qua dự án nuôi cá thương phẩm, kết nối đồng bộ 4 chủ thể gồm chính quyền, ngân hàng, đoàn thể và doanh nghiệp.
Đề xuất lộ trình giải pháp khả thi với mục tiêu nâng thu nhập thêm 30% đến 40% cho các hộ tham gia và tạo việc làm cho hơn 200 lao động nông thôn mỗi năm.
Về kế hoạch tiếp theo, mô hình liên kết nguồn lực cần được hoàn thiện thử nghiệm trong giai đoạn 2017 - 2018 trước khi nhân rộng ra toàn địa bàn huyện Mỹ Đức đến năm 2020. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cán bộ phát triển cộng đồng hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ này để áp dụng hiệu quả các mô hình liên kết nguồn lực vào thực tiễn an sinh xã hội tại địa phương.