Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái quát về tín dụng và hệ thống tín dụng 1. Khái niệm Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, phản ánh quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có mục đích và bảo đảm tiền vay (Bộ tài chính, 1996).
Theo nghĩa nguyên thủy, tín dụng là sự tin tưởng, tín nhiệm mà cho vay mượn các loại vật tư, hàng hóa, tiền tệ. Như vậy, tín dụng không chỉ là sự vay mượn thông thường mà là sự vay mượn với một mức tín nhiệm nhất định. Tức là khi thực hiện quyền cho vay, người cho vay tin vào khả năng trả nợ của người đi vay. Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, trước hết là dựa trên cơ sở niềm tin (Bộ tài chính, 1996).
Tín dụng nông thôn là bất cứ loại chương trình tiết kiệm và cho vay, nhằm mục đích tác động đến một số cư dân nông thôn. Tùy theo tính chất của tín dụng nông thôn, kế hoạch tín dụng có thể tập trung vào việc cung ứng tín dụng, đảm bảo mua sắm trang thiết bị mới, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đổi mới hoặc cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn. Hệ thống tín dụng nông thôn (HTTDNT) là khối liên kết các tổ chức cung cấp các dịch vụ tín dụng cho các cá nhân và tổ chức (dân chúng, doanh nghiệp, các tổ chức khác) trong khu vực nông thôn, hiện hữu trên địa bàn nông thôn, với mục tiêu trực tiếp phục vụ cho nhu cầu địa bàn nông thôn. Các khách hàng của HTTDNT thường ít tiếp cận được hoặc không tiếp cận được dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại.
HTTDNT thường cung cấp các dịch vụ như nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, bảo hiểm (Theo Fries, R. Đặc điểm của tín dụng nông thôn Thứ nhất, chi phí giao dịch trong khu vực nông thôn thường cao hơn khu vực đô thị (đối với cả các tổ chức và khách hàng) vì ở nông thôn có mật độ dân số phân tán, cơ sở hạ tầng chất lượng thấp, khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ, kinh doanh còn hạn chế. Thứ hai, các tổ chức tín dụng phải đối mặt với các rủi ro cao hơn do sự chia cắt thị trường và dòng tiền thấp. Thứ ba, hoạt động tín dụng muốn thành công phải vận dụng linh hoạt cả cơ sở pháp lý chính thức và phi chính thức.
Thứ tư, khách hàng của tổ chức tín dụng thường có khả năng chịu đựng rủi ro thấp và tính dễ bị tổn thương cao. Thứ năm, các tổ chức tín dụng phải đối mặt với vấn đề cầu về các dịch vụ tín dụng nông thôn thường có tính thời vụ cao. Những đặc điểm trên xuất phát từ đặc thù cơ bản của khu vực kinh tế xã hội nông thôn. Nhìn chung, những đặc điểm này làm cho hệ thống tín dụng nông thôn trên địa bàn huyện phát triển sẽ gặp khó khăn hơn, cần sự nỗ lực nhiều hơn so với thành thị.
Tuy nhiên, các vùng nông thôn ở huyện cũng có những đặc điểm kinh tế xã hội rất khác nhau vì vậy dẫn tới sự khác biệt về đặc điểm của hệ thống tín dụng. Phân loại tín dụng Cho đến nay có nhiều tài liệu nghiên cứu về các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trường. Những nghiên cứu đó đã phân tích tín dụng theo các tiêu thức nhất định như thời gian cho vay, đối tượng cho vay, mục đích và hình thức biểu hiện của vốn và chủ thể các quan hệ tín dụng. Theo Đỗ Tất Ngọc (2007), tín dụng được phân loại như sau: - Căn cứ theo thời hạn tín dụng: + Tín dụng ngắn hạn: Là tín dụng sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất.
c 7 + Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng chủ yếu được tài trợ để mua sắm trang thiết bị, phương tiện vận tải, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất kinh doanh, một số cây trồng vật nuôi. + Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho các công trình xây dựng như nhà, cầu cống, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường là những loại tài sản có giá trị lâu dài. Thời hạn tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn ở mỗi nước là khác nhau. Thời hạn tín dụng ngắn hạn có sự thống nhất cao ở các nước nhưng thời hạn tín dụng trung hạn và dài hạn có thể khác nhau ở mỗi nước do tính chất phát triển của hệ thống tín dụng của từng nước.
- Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể tín dụng + Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Cơ sở pháp lý để xác định quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là giấy nợ, được gọi là kỳ phiếu thương mại hay thương phiếu. + Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân. Đặc điểm của loại tín dụng này là huy động và cho vay đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ.
+ Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tầng lớp dân cư hoặc các tổ chức kinh tế xã hội. Nhà nước vay vốn của các tầng lớp dân cư hoặc các tổ chức kinh tế xã hội bằng cách phát triển trái phiếu. Nhà nước có thể cho dân vay vốn từ quỹ kho bạc Nhà nước theo các chương trình phát triển kinh tế xã hội của chính phủ. + Tín dụng quốc tế: Là quan hệ tín dụng giữa chính phủ một nước với các nước khác hoặc giữa chính phủ các nước với tổ chức tín dụng quốc tế.
+ Tín dụng tư nhân, cá nhân: Là quan hệ tín dụng giữa tư nhân với tư nhân cho vay nặng lãi hoặc giữa các cá nhân với nhau như giữa anh em, họ hàng, làng xóm. + Tín dụng thuê mua: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp (người thuê) với tổ chức tín dụng thuê mua (các công ty tín dụng thuê mua). c 8 + Một số hình thức khác mang tính chất tín dụng như bán trả góp, dịch vụ cầm đồ hay bán non nông sản. Vai trò của tín dụng nông thôn Trong tiến trình phát triển kinh tế ở hầu hết các quốc gia.
Vấn đề vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề được quan tâm đầu tiên của Chính phủ. Trong đề án phát triển nông thôn, mỗi xã cần nhu cầu vốn bình quân khoảng 200 tỷ VND. Vốn tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế khu vực nông thôn và đặc biệt quan trọng đối với các hộ nghèo. Chính phủ đã có nhiều chương trình cho vay vốn ưu đãi đối với hộ nghèo, thoát khỏi cảnh đói nghèo góp phần vào ổn định đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn.
Đối với địa bàn nông nghiệp nông thôn trong nền kinh tế thị trường hiện nay: Tín dụng là tập trung huy động nhiều nguồn vốn, gắn liền với sử dụng vốn có hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế, tạo điều kiện tích lũy vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tín dụng thực sự là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển cũng như mở rộng thương mại dịch vụ ở các khu vực”. Do đó, tín dụng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn trên địa bàn nông thôn và được thể hiện như: - Góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tín dụng nông thôn Thị trường tín dụng ở nông thôn trên địa bàn nông thôn là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn. Thị trường tín dụng nông thôn bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ.
Trong thị trường này hệ thống ngân hàng NN & PTNT và ngân hàng CSXH có vai trò vô cùng quan trọng, vì nó có hệ thống đến tận huyện và các phòng giao dịch tại các cụm xã. Mặt khác ở một số xã, khu vực còn có quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Chính hoạt động tín dụng đã hình thành và đẩy nhanh sự phát triển của thị trường tín dụng ở nông thôn. c 9 - Góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn.
Tại khu vực nông thôn hiện nay, số hộ dân khá đang giàu lên chiếm tỷ lệ ngày càng cao do họ có trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu được khoa học kỹ thuật, họ có vốn là điều thiết yếu ban đầu cho quá trình sản xuất và nắm bắt nhanh nhạy thị trường, họ quyết định được sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào, để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Ngược lại có những hộ không có kinh nghiệm, kinh doanh không có hiệu quả dẫn đến lỗ, hoặc có ruộng đất quá ít so với nhu cầu của họ hoặc thiếu vốn cho quá tình sản xuất. Trong mọi trường hợp, đồng vốn tín dụng của ngân hàng giúp hộ có khả năng giải quyết được khó khăn trong sản xuất kinh doanh và góp phần tăng thu nhập cho hộ. Quy mô sản xuất của hộ càng lớn, thì càng có khả năng đứng vững hơn trong cạnh tranh, bởi lẽ khi có vốn, người nông dân có thể áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, tăng sản lượng, tăng tỷ trọng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm.
Trên cơ sở đó, họ có khả năng dễ dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn. - Góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên. Tiềm năng về phát triển nông thôn ở nước ta là rất lớn, nếu được Nhà nước quan tâm đúng mức với những chính sách vĩ mô thích hợp, đặc biệt là nếu có chính sách đầu tư tín dụng hợp lý, thì chắc chắn những khả năng tiềm tàng mà lâu nay chưa được sử dụng sẽ được động viên khai thác triệt để và phát huy hiệu quả. Sức lao động được giải phóng kết hợp với đất đai được giao quyền sử dụng lâu dài cho từng hộ gia đình sẽ đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn hàng hóa nông sản thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước.