CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO 1.1 Khái quát quản lý nhà nước về giảm nghèo 1.1 Một số khái niệm 1.1 Nghèo đói Có nhiều quan niệm về nghèo đói, tuy nhiên các khái niệm này đều xem nghèo đói là trạng thái mà một phần dân cư không đủ điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống gia đình dưới mức sống tối thiểu trong ngữ cảnh chung của cộng đồng. Nghèo đói là một rào cản lớn làm hạn chế khả năng phát triển của con người, cộng đồng và quốc gia. Đối với người nghèo khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội bị hạn chế. “Nghèo là chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân hầu như chỉ đủ cho nhu cầu ăn, thậm chí cũng có thể không đủ cho nhu cầu ăn, phần tích lũy hầu như không có.
Ngoài ra các nhu cầu ăn, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa đi lại và giao tiếp chỉ được đáp ứng một phần rất nhỏ”.186] Ở Việt Nam, Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững cho mỗi giai đoạn 5 năm trên cơ sở công bố chuẩn nghèo để đo lường sự thay đổi của tình trạng nghèo trong giai đoạn tương ứng. Từ 2015 trở về trước, Việt Nam vẫn sử dụng phương pháp đo lường nghèo đơn chiều theo chuẩn nghèo thu nhập. “Chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ là mức thu nhập bình quân một người một tháng của hộ gia đình đảm bảo mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm cung cấp một lượng calo 2100-2300 Kcal/người/ngày và một lượng hàng hóa phi lương thực, thực phẩm tối thiểu”.20] Các đánh giá chuẩn nghèo ở nước ta cơ bản là ở mức thấp so với tiêu chí chuẩn nghèo của thế giới. Tình trạng, số hộ dân thoát nghèo cũng cao nhưng vẫn có hiện tượng số hộ tái nghèo, nguyên nhân là do mức thu nhập sau khi thoát nghèo vẫn nằm cận với mức chuẩn nghèo.
Đó là hạn chế của quan niệm này, chính vì vậy để hiệu quả giảm nghèo được bền vững cần có đánh giá khác về tiêu chí giảm nghèo. 7 Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN) khái niệm nghèo được tiếp cận như sau: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” [6].
Để đánh giá chính xác và thực hiện những chính sách xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả, cần đưa ra một cách tiếp cận về nghèo một cách toàn diện. Theo đó, nghèo đói được đánh giá trên một số lĩnh vực như sức khỏe, giáo dục và điều kiện sống. Mỗi lĩnh vực này lại được xem xét theo những khía cạnh cụ thể. Việc tiếp cận theo những tiêu chí mới thì tình trạng nghèo được đánh giá toàn diện hơn so với tiêu chí đánh giá nghèo dựa trên thu nhập.
Khái niệm nghèo ở Việt Nam được hiểu như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ được thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn so với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [7, tr. Nghèo không chỉ là thu nhập kém mà còn bao gồm các vấn đề về giáo dục, y tế, an toàn thực phẩm, văn hóa, quyền lợi công dân và tiếp cận thông tin. Nghèo đa chiều đặc biệt phổ biến trong các khu vực nông thôn và miền núi của Việt Nam, và cần được giải quyết thông qua các biện pháp toàn diện.2 Giảm Nghèo Hiện nay, xu hướng nghèo đói đang dần bị đẩy lùi nhưng không phải là không quay trở lại, nghèo đói có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào. Cùng với sự nỗ lực của toàn thế giới để giảm nghèo, Việt Nam là một quốc gia đi đầu trong việc thực hiện xây dựng, ban hành các chính sách hữu hiệu để thực hiện mục tiêu giảm nghèo.
8 Khái niệm giảm nghèo được đưa ra chính thức vào năm 1990 thông qua Báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “Giảm nghèo là quá trình giảm thiểu độ nghèo của một cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng trong một khu vực nhất định. Điều này có thể được đạt được thông qua một loạt các biện pháp như tăng cường giáo dục, y tế và cơ hội việc làm, cải thiện điều kiện sống và tiếp cận các nguồn tài nguyên cơ bản. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo”. Giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì ở mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên chuẩn nghèo đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro.26-27] Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016) đã khẳng định: “Thời gian qua, công tác giảm nghèo thiếu bền vững.
Chưa hình thành cơ chế đồng bộ về giảm nghèo đa chiều, đa mục tiêu. Nhiều chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo chồng chéo nhau và chồng chéo với các chính sách khác” [19, tr.114] Vấn đề này bắt đầu được giải quyết khi Bộ Lao động Thương binh được giao nhiệm vụ theo dõi, giám sát và chịu trách nhiệm về các chương trình, chính sách giảm nghèo. Để bắt kịp những thay đổi Bộ LĐTBXH căn cứ theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP, Ngày 27/01/2021, Chính phủ ban hành quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025, chuẩn nghèo cập nhật theo thời gian để bám sát với những thay đổi về giảm nghèo tại các vùng miền, địa phương.1 Chuẩn nghèo Việt Nam giai đoạn 2022- 2025 Nội dung Nông thôn Thành thị Chuẩn hộ - Có thu nhập bình quân đầu - Có thu nhập bình quân đầu có mức người/tháng hơn 1,5 triệu người/tháng hơn 2 triệu sống TB đồng đến 2,25 triệu đồng. đồng đến 3 triệu đồng.
- Có thu nhập bình quân đầu - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng người/tháng từ 2 triệu đồng Chuẩn hộ trở xuống; trở xuống cận nghèo - Thiếu hụt dưới ba chỉ số đo - Thiếu hụt dưới ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. vụ xã hội cơ bản - Có thu nhập bình quân đầu Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng người/tháng từ 2 triệu đồng Chuẩn hộ trở xuống trở xuống; nghèo - Thiếu hụt từ 3 chỉ số đo - Thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên vụ xã hội cơ bản trở lên ( Nguồn: Bộ LĐ& TBXH) Căn cứ vào các tiêu chí chuẩn nghèo đưa ra có thể phân loại được các hộ nghèo và rất nghèo từ đó có xem xét mức hỗ trợ của các chương trình. Căn cứ theo kế hoạch 5 năm dựa vào kết quả tổng hợp về tình trạng nghèo của các địa phương, đánh giá theo dõi được thay đổi của các hộ nghèo. Căn cứ vào thay đổi đó xác định được hiệu quả của các chương trình, chính sách giảm nghèo đang thực hiện, kịp thời điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tiễn địa phương.3 Khái niệm QLNN về giảm nghèo Quản lý nhà nước về giảm nghèo “là hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách, chủ trương, đề án liên quan đến người nghèo nhằm đạt được 10 mục tiêu quản lý của nhà nước là giảm tỷ lệ hộ nghèo nâng cao mức sống của người dân từ đó góp phần thúc đẩy KT- XH” [10, tr.188] QLNN về giảm nghèo nhằm đảm bảo rằng các chính sách, chương trình và hoạt động liên quan đến giảm nghèo đạt được hiệu quả cao và bảo đảm quyền lợi cho người dân có hoàn cảnh khó khăn.
Các hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo thường được thực hiện thông qua việc phát triển kinh tế, xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nghèo. Việc quản lý nhà nước về giảm nghèo thường được thực hiện thông qua việc phát triển kinh tế, xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo.2 Sự cần thiết của giảm nghèo Mục tiêu giảm nghèo được Đảng và Nhà nước xác định lên hàng đầu trong quá trình phát triển và xây dựng đất nước, trở thành một chủ trương lớn, một chương trình mang tầm quốc gia, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong giai đoạn đổi mới giảm nghèo là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết trong nỗ lực phát triển toàn diện để hướng tới xây dựng một xã hội công bằng và văn minh. Giảm nghèo là cải thiện chất lượng cuộc sống của những người nghèo trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực như dinh dưỡng, giáo dục, y tế, nhà ở và cơ sở hạ tầng cơ bản.
Nói giảm nghèo là nâng cao chất lượng cuộc sống vì khi một quốc gia hoặc một khu vực giảm thiểu được đáng kể tỷ lệ người nghèo, điều đó có thể dẫn đến những cải thiện đáng kể trong các khía cạnh của cuộc sống. Giảm nghèo sẽ góp phần cải thiện sức khỏe và giảm tỷ lệ tử vong. Với việc tiếp cận tốt hơn đến các dịch vụ y tế, giáo dục và các cơ sở hạ tầng cơ bản như nước sạch, vệ sinh và tiện ích công cộng, người dân có thể tăng cường sức khỏe và giảm nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm. Với sự tiếp cận tốt hơn đến các cơ sở giáo dục, người nghèo có thể học hành và phát triển kỹ năng để có thể tham gia vào một xã hội công bằng hơn.
Xây dựng sự công bằng và tăng cường an ninh xã hội khi thực hiện tốt công tác giảm nghèo. Nghèo đói và bất bình đẳng kinh tế là nguyên nhân gốc rễ 11 của nhiều vấn đề xã hội như tội phạm, mâu thuẫn xã hội và bất ổn. Giảm nghèo giúp giảm bớt bất bình đẳng, xây dựng một xã hội công bằng hơn và làm tăng sự ổn định và an ninh xã hội. Giảm nghèo không chỉ có tác động tích cực đến sức khỏe, giáo dục và thu nhập của những người chịu ảnh hưởng, mà còn có tác động rất lớn đến sự công bằng và an ninh xã hội.