phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung. của đề tài gồm 03 chương. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh cá thể. Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Liên Chiều Chương 3.
Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Liên Chiều. 12 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY NHA NUOC DOI VOI HOAT DONG KINH DOANH CA THE 1. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÁ THÊ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VOI HOAT DONG KINH DOANH CA THE 1. Khái niệm, đặc điểm vai trò của hoạt động kinh doanh cá thể a.
Khái niệm hoạt động kinh doanh cá thể Ta có hoạt động kinh doanh cá thể là cách nói ngắn gọn của hoạt động. kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể. Như vậy đề hiễu rõ khái niệm hoạt động. kinh doanh cá thể là gì, thì phải hiểu hai khái niệm, thứ nhất kinh doanh là gì và hộ kinh doanh cá thể là gì.
Kinh doanh là gì? Theo khoản 16, điều 4, Luật doanh nghiệp 2014, khái niệm kinh doanh được định nghĩa là “Kinh đoanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tắt cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời” Còn theo định nghĩa của Lewis Henry định nghĩa kinh doanh là “#foa động của con người hướng tới sản xuất hoặc có được sự giàu có thông qua việc mua bán hàng hóa” Hộ kinh doanh cá thể là gì? Tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về quy định đăng ký kinh doanh, có nêu: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (Điều 17, khoản 1) Khái niệm “Hộ kinh doanh ca thé” sau đó đến Nghị định số 88/2006/NĐ- 13 CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh đã thống nhất với khái niệm *Hộ kinh doanh”. Nghị định số 88/2006 NĐ-CP định nghĩa: “//ô kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con đấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (Điều 49, khoản 1) Đến năm 2015 tại Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP khái niệm hộ kinh doanh được định nghĩa lại như sau: “Hộ kinh doanh đo một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đây đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định ” (Điều 66, khoản 1) “Tóm lại từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu hoạt động kinh doanh ca thé là hoạt động sản xuất hoặc mua bán hàng hóa thường xuyên được thực hiện với mục tiêu kiếm lợi nhuận của các HKD. Đặc điểm của hộ kinh doanh cé thé [4] Một là, HKD không có tư cách pháp nhân.
Trước đây, theo quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải được ban hành theo Nghị định 27/HĐBT ngày 9/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng thì Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân của HKD. Nhưng theo quy định của pháp luật hiện hành, HKD không có tư cách pháp nhân. Tư cách pháp nhân theo quan niệm của pháp luật Việt Nam hiện nay là tư cách pháp lý được Nhà nước công nhận cho một tô chức (nhóm người) có khả năng tồn tại và hoạt động độc lập trước pháp luật. Khác với thẻ nhân, 14 không phải tổ chức nào, nhóm người nảo cũng đều được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân.
Theo quy định Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: (a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; (b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 Bộ Luật này; (e) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (d) Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. HKD do một cá nhân thành lập có bản chất là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân. Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên - Một hình thức công ty được pháp luật thừa nhận là có tư cách pháp nhân bởi nó được chủ sở hữu tạo lập nên như một thực thể riêng biệt mà tại đó chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty. Như vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể tách biệt với chủ sở hữu của nó.
Trong khi đó HKD và cá nhân thành lập nên nó không phải là hai chủ thể pháp lý độc lập với nhau. Mọi tài sản của HKD đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu làm ăn phát đạt, thu được nhiều lợi nhuận, cá nhân tạo lập HKD hưởng toàn bộ số lợi nhuận đó (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật và gánh chịu mọi nghĩa vụ cá nhân tạo lập HKD có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án liên quan tới hoạt động của HKD). 'Như đã phân tích ở trên, hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam vì hộ gia đình không phải là cá nhân mà tập hợp các thành viên có tài sản chung.
Trong trường hợp HKD được tạo lập bởi hộ gia đình, thì HKD có bản chất là hộ gia đình kinh doanh. Do đó, HKD cũng không phải là pháp nhân. HKD được tạo lập bởi một nhóm người cũng không có tư cách pháp 15 nhân. Về thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh loại hình này gần giống với công ty hợp danh và tổ hợp tác: Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng tự nguyện từ 3 cá nhân trở lên, có cam kết về nghĩa vụ giữa họ với nhau; liên đới trách nhiệm về tài sản riêng của mình, theo phần tương ứng với phần đóng góp của mỗi người, trừ khi họ có thỏa thuận khác về mức chịu trách nhiệm.
Như v: , về nguyên tắc tô hợp tác phải chịu trách nhiệm vô hạn, là một hức nhân. Thực chất HKD, do cá nhân chủ hộ hoặc các cá nhân thành viên của hộ tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về các rủi ro trong kinh doanh một cách cá nhân (hoặc liên đới giữa các cá nhân) và trực tiếp. Dù nghị định 78/2015/NĐ-CP không có quy định nói về vấn đề này, nhưng thực tế hộ gia đình kinh doanh không thể nhân danh chính mình tham gia các quan hệ pháp luật. Hai là, HKD là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ.
Pháp luật Việt nam dùng quy mô làm tiêu chí để phân biệt HKD và doanh nghiệp. Trước đây, theo Nghị định 66/HĐBT và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990, tiêu chí để xác định quy mô kinh doanh là vốn pháp định. Đây cũng là tiêu chí để phân biệt cá nhân và nhóm kinh doanh (HKD) với doanh nghiệp tư nhân. Muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân phải có đủ vốn pháp định (được hiểu là mức vốn pháp định tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp), trong khi đó đối với cá nhân và nhóm kinh doanh không nhất thiết phải như vậy và loại hình kinh doanh này không được coi là doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế quy định này không hợp lý vì một số HKD lại đầu tư một số ôn rất lớn, vượt xa mức vốn pháp định đòi hỏi phải có đối với một doanh nghiệp tư nhân trên cùng một lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh.
Từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999, tiêu chí vốn pháp định đã được bỏ đi. Thay vào đó là số địa điểm kinh doanh và số lượng lao động. Nếu HKD có sử dụng 16 thường xuyên trên 10 lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. HKD chỉ được đăng ký tại một địa điểm và nếu quy mô hoạt động của HKD tăng lên đến mức có nhu cầu mở thêm địa điểm kinh doanh thì chủ sở hữu HKD đó cũng phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp vì pháp luật không giới hạn số lượng địa điểm kinh doanh mà một doanh nghiệp.
Ba là, chủ HKD chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của HKD. Theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP thì chủ HKD được xác định là cá nhân người đầu tư trong trường hợp HKD do cá nhân làm chủ, các thành viên trong trường hợp HKD do một nhóm người làm chủ hoặc tất cả các thành viên của hộ gia đình trong trường hợp HKD do một hộ gia đình làm chủ. HKD và chủ thể sáng lập ra nó (chủ HKD) không phải là hai thực thẻ độc lập, và có án tách biệt với nhau. Nên chủ HKD phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của HKD, có nghĩa là, chủ HKD phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình €.
Vai trò của hoạt động kinh doanh cá thể[15J Đối với nền kinh tế quốc dân, hoạt động kinh doanh cá thẻ thể hiện rõ những vai trò quan trọng như sau: Thứ nhất, góp phần tạo việc làm, sử dụng số lượng lớn lao động, góp phân tăng thu nhập, xoá đói giám nghèo. Đối với hộ kinh doanh ai cũng có thể khởi nghiệp, kinh doanh với quy. mô nhỏ lẻ, không yêu cầu về cơ cấu tổ chức rõ ràng, chế độ kế toán gọn nhẹ dễ khai báo. Chính vì vậy mà hộ kinh doanh cảng ngày càng được phát triển, mặt khác lao động làm việc cho các hộ kinh doanh chủ yếu không cần trình độ kỹ thuật, chuyên môn tay nghề cao chính vì vậy mà hộ kinh doanh đã góp phần tạo việc làm giải quyết tình trạng thất nghiệp, góp phần xóa đói giảm 17 nghèo.