Chương 1 TỔNG QUAN Trong giai đoạn hiện nay với sự tiến bộ nhanh chóng như vũ bão c ủa th ời đ ại khoa học-kỹ thuật, thông tin đã trở thành một nhu cầu không thể nào thi ếu trong m ọi lình vực của cuộc sống, đặc biệt trong công tác quản lý, l ập k ế ho ạch, theo dõi và đánh giá một công tác y tế thì thông tin y tế là một nhu cẩu bức thiết [58]. Các nước chung quanh chúng ta đã thấy được tầm quan trọng của thông tin y tế trong công tác quản lý nên đã nghiên cứu và hoàn chỉnh hệ thống này từ lâu. ở Philippines từ năm 1989 hệ thống thông tin y tế đã được cải tổ trên quy mô cả nước để thu nhân dữ liệu từ cơ sở, phần lớn người thu thập thông tin là các nữ hộ sinh và y tá đã được đào tạo theo quy trình thu thập dữ liệu c ủa ngành y t ế. Đây là h ệ th ống thông tin duy nhất của chính phủ xuống đến tận thôn xóm, là một hệ thống rất cần thiết cho cán bộ y tê' địa phương trong việc cải tiến có hiệu lực các dịch vụ y tế.
Hai phương pháp thu tháp dữ liệu phổ biến là báo cáo thường quy và theo dõi các hoạt động của cơ sở y tê' [47] Tại Thái Lan, hệ thống thông tin y tế đã bước vào kê' hoạch phát triển y tế lần thứ tư (1977-1981), hệ thống này đã cung cấp dữ liệu y tê' cần thiết cho việc lập kê' ho ạch chung. Một hệ thống thu thập thông tin được hình thành từ thôn, xã, huyện, tỉnh đến Bộ Y Tê' với sự hổ trợ của máy tính đã làm tô't công tác thu thập và xử lý thông tin y tế. Hai phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng là báo cáo định kỳ và điều tra nghiên c ứu cộng đổng [29]. ở nước ta, sự đổi mới từ cơ chê' bao câ'p sang cơ chế kinh tê' th ị tr ường đã làm cho nền kinh tế đất nước có những phát triển đáng kể, đời sống nhân 4 dân được cải thiện và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng và đa dạng, phong phú hơn [13], Đổng thời với đổi mới về cơ chế kinh tê' thì hệ thống y tê' tư nhân cũng hình thành và phát triển rất nhanh.
Việc tự do lựa chọn cơ sở điều tr ị đã giúp ng ười b ệnh thuận lợi trong việc khám chữa bệnh nhưng lại gây ra một sô' trở ngại trong công tác thu thập thông tin y tê' nhữ khó thống kê sô' bệnh nhân đi khám b ệnh ở tháy thu ốc t ư, t ự mua thuốc hay tìm đến các dịch vụ y tê' không thuộc hệ thống nhà nước để điều trị [27]. Chăm sóc sức khỏe ban đầu luôn luôn là trọng điểm c ủa ngành y tê' n ước ta đ ể nâng cao sức khỏe nhân dân, do đó tại tuyên y tê' cơ sở (YTCS) đã tri ển khai nhi ều chương trình y tê' quốc gia và đã từng bước cải thiện sức khỏe của người dân [11]. Tuy vây, việc chậm trễ, chồng chéo, tràng lắp, mất thông tin là điều vẫn thường x ảy ra t ại tuyến YTCS một khi mà cán bộ y tê' (CBYT) phải thực hiện đổng thời nhiều chương trình y tê' tại xã. Tại tuyến huyện, những nguồn thông tin y tê' có được chủ yếu tìr báo cáo c ủa y tê' xã, báo cáo của đội vệ sinh - phòng dịch và báo cáo của bệnh viện huyện gửi đến.
Các thông tin ở bệnh viện huyện thường dễ thu thập vì bệnh nhân được theo dõi từ lúc vào cho đến lúc ra viện, bệnh nhân đến bệnh viện để điều trị nên sẩn sàng hợp tác với CBYT trong việc cung cấp thông tin để góp phần điều trị có hiệu quả. Ở bệnh viộn lại có nhiều phương tiện chẩn đoán và điều trị, bênh nhân chỉ khu trú trong bênh phòng nên việc thu tháp thông tin rất nhanh chóng, trái lại ở tuyến YTCS công t ầc này không đ ơn gi ản và thuận lợi như trong bệnh viện. Tại tuyến y tê' cơ sở, cán bộ y tê' thu tháp thông tin qua vi ệc khám ch ữa b ệnh bênh nhân tại trạm, qua báo cáo của y tô' thôn bản và cộng tác viên dân sô' đổng thời thu thập qua việc thăm viếng các hộ gia đình [10], Do tầm quan trọng của thông tin ở tuyến YTCS trong công tác quản lý của ngành nên chúng ta cần xem xét thực trạng của công tác thống kê tại 5 tuyến YTCS như thế nào để có thể tìm ra một số nguyên nhân gây ảnh hưởng không tốt đến công tác này và đề ra các biện pháp cải tiến thích hợp. -Hệ thống báo cáo thống kê y tế hiện nay: Mạng lưới thống kê y tế (TKYT) của nước ta đã hoạt động t ừ nhi ều năm nay, cùng với sự phát triển chung của toàn xã hội thì ngành TKYT cũng có những bước phát triển không ngừng.
Kể từ năm 1964 Phòng thống kê tổng hợp - Bộ Y Tế được chính thức thành lập và nay gọi là Phòng Thống kê-Tin học (TK-TH) trực thu ộc V ụ K ế ho ạch v ới nhiệm vụ như sau [14]: - TỔ chức xây dựng màng lưới thống kê-tin học, truyền tin ngành y tế từ trung ương đến địa phương. - Là cơ quan duy nhất có quyền ban hành và quản lý sổ sách, biểu mẫu báo cáo thống kê của ngành y tế, thống nhất và chuẩn hoá biểu mẫu thống kê, sổ sách ghi chép ban đầu và phần mếm tin học chuyên dụng. - TỔ chức thu thập, phân tích xử lý, cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành, giám sát, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học. - Dự báo xu thế phát triển các mặt hoạt động chuyên môn y tế và xu thế bộnh tật, tử vong phục vụ cho định hướng phát triển trước mắt và lâu dài.
- TỔ chức đào tạo bổ túc chuyên môn nghiệp vụ và quản lý hệ thống thống kê tin học cho các tuyến. - Thống kê y tế ở các sở y tế : bộ phận thống kê - tin học của các sở y tế là một tổ gổm 1-2 người trong phòng kế hoạch tổng hợp của sở, hầu hết cán bộ có trình độ chuyên môn đại học, có chức năng và nhiệm vụ : - Tổ chức xây dựng màng lưới thống kê - tin học trong tỉnh, thành phô', cung cấp thông tin y tế trong địa phương, từng bước hiện đại hóa tiến tới thí điểm xử lý điều hành thông tin y tế trên mạng. - TỔ chức thu thập, phân tích xử lý, cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý thuộc địa bàn phụ trách. 6 - Tổ chức đào tạo, bổ túc chuyên môn nghiệp vụ và bảo quản hệ thống thống kê - tin học, thông tin phản hồi cho tuyêh dưới.
- Thống kê y tế ở các trung tâm y tế (TTYT) huyện: tại TTYT huyện chỉ có 1 cán bộ thống kê biên chế trong phòng thống kê-tổng hợp có chức năng chính là tổng hợp các hoạt động của bệnh viện, hoạt động dự phòng và hoạt động của các trạm y tê' xã phường thuộc tuyến huyện quản lý. Cán bộ thống kê y tê' huyện có nhiệm vụ: - Hướng dẫn việc cập nhạt thông tin cho y tá trưởng của các khoa, phòng trong bệnh viện, đội y học dự phòng, đội sinh đẻ có kê' hoạch, trưởng trạm y tê' xã. - Thu thập, xử lý và tổng hợp báo cáo gởi cho Sở y tê' và UBNĐ huyện. - Giám sát, chỉ đạo việc thực hiện chê' độ báo cáo của các đơn vị thuộc địa bàn quản lý.
- Thống kê ở trạm y tế xã phường: ở các trạm y tê' xã phường thì trưởng trạm là người trực tiếp làm công tác thống kê báo cáo cùng với sự trợ giúp của các cán bộ trong trạm. Khác với hệ thống thu thập thông tin ở Mỹ bao gổm báo cáo của các thầy thuốc, bệnh viện công và tư, trường học, phòng xét nghiệm, báo cáo thống kê sinh tử [50] thì hộ thống thu thập thông tin của ngành y tê' nước ta bao gổm từ 5 nguồn chính như sau : 1 .-Hệ thống báo cáo thống kê định kỳ của tuyến y tê' cơ sở tổng hợp tại huyện, tỉnh rồi chuyển cho Phòng TK-TH thuộc Vụ Kê' Hoạch, Bộ Y Tê 2 .-Báo cáo định kỳ trực tiếp từ 61 huyên trọng điểm của UNICEF.-Báo cáo của các chương trình y tế ngành dọc.-Báo cáo của Tổng Cục Thống Kê. 5,-Báo cáo của các bộ, ngành có liên quan, các điểu tra chọn mẫu. 7 [50] Sơ đổ 1: Hệ thống thu thập thông tin ở Mỹ 8 Sơ đổ 2: Sơ đồ hệ thống báo cáo thống kê y tế ở nước ta Ghi chú : (1), (2), (3), (4) và (5) được nêu ở trang 7.
-Mô hình thu thập thông tin đang áp (lụng: 1 .-Hệ thống chính thức: Phương tiện thu thập thông tin chính thức của Bộ Y T ế hi ện nay g ổm có 7 cuốn sổ như sau : 2 .- Sổ AI : sổ khám bệnh 3 .- Sổ A2 : sổ tiêm chủng vắc xin 4 .- Sổ A3 : sổ khám thai 5 .- Sổ A5 : sổ theo dõi các biện pháp KHHGĐ 7 .- Sổ A6 : sổ theo dõi nguyên nhân tử vong 8 .- Sổ A7 : sổ theo dõi các bệnh xã hội (sốt rét, lao, phong, mắt h ột- mù loà, tâm thần - nghiên hút, hoa liễu, bướu cổ) [1]. Theo quyết định của Bộ Y Tế số 882/Bộ Y Tê'-QĐ ngày 15-8-1992 thì cán bộ y tế trạm dùng các sổ này để ghi chép toàn bộ các hoạt động của trạm y tê' xã. Quyết định này đã được sửa đổi lần thứ ba vào năm 1996 và sửa đổi lại lần thứ tư vào năm 1997 và mâu mới nhất được ban hành vào đâu năm 1998, hiện nay các trạm y tê' xã phường thu tháp sô' liệu theo mâu mới ban hành này. Theo biểu mẫu cũ thì trạm y tế phải báo cáo các chỉ sô' theo 3 biểu mẫu 1/BCX, 2/BCX và 3/BCX trong khi biểu mẫu mới có 8 loại từ biểu 1/BCX đến biểu 8/BCX thì tách biệt ra từng nội dung cụ thể [1], Ta có thể xét sự khác nhau giữa 2 loại biểu mẫu cũ và mới, các nội dung ở biểu mẫu cũ được chuyển qua biểu mãu mới như dưới đây: Biểu mẫu cũ chuyển vào Biểu mẫu mới [Phụ lục 6] Biểu 1/BCX - Biểu 5/BCX và 6/BCX Biểu 2/BCX - Biểu 1/BCX, 2/BCX,3/BCX,4/BCX,7/BCX Biểu 3/BCX - Biểu 8/BCX 10 Giữa biển mẫu mới và cũ có một số thay đổi như sau: 9 Thêm nội dung “diện tích” và “dân tộc thiểu số” vào biểu 1/BCX.