ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Sự cần thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, phát triển các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Chương II điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”. Thực hiện Luật Đất đai, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong những năm qua đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010 được triển khai ở 4 cấp: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 – 2010) cấp quốc gia đã được Quốc hội thông qua; đối với địa phương, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hầu hết các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010. Nhìn chung, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp đã dần đi vào nề nếp và trở thành công cụ quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với đất đai, đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Nhận thức về vị trí, vai trò của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và ý thức chấp hành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp chính quyền đã được nâng lên. Thông qua việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã bước đầu kiểm soát n 2 được việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về đất đai cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tỉnh Bắc Kạn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch tại Quyết định số 1424/QĐ-TTg ngày 06 tháng 11 năm 2001 và đưa vào triển khai thực hiện. Việc quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của tỉnh đã góp phần tích cực vào việc hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ 2005 - 2010, làm căn cứ cho Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm của tỉnh Bắc Kạn. Trong những năm qua, UBND tỉnh Bắc Kạn đã chỉ đạo các ngành, các cấp căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất của tỉnh được duyệt, tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất cho từng ngành, từng huyện, thị xã và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2005 - 2010) trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đồng thời tổ chức triển khai thực hiện những nội dung cơ bản trong phương án quy hoạch sử dụng đất đã đề ra, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Việc đánh giá qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Bắc Kạn và liên hệ thực tế tại huyện Na Rì là hết sức quan trọng, cần thiết vì: nó sẽ là cơ sở, nền tảng cho việc hoạch định chiến lược sử dụng đất đai của tỉnh một cách hợp lý, hiệu quả; làm tiền đề qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các kỳ sau có tính khả thi cao hơn, tiết kiệm thời gian, kinh phí tổ chức thực hiện, phù hợp với điều kiện, vị trí địa lý của tỉnh miền núi trước khi lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hạn chế tối đa việc trình, xin điều chỉnh qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất với các cơ quan Bộ, ngành cấp trên khi chưa đến kỳ qui hoạch đất đai. Từ thực trạng sử dụng đất của tỉnh trong 5 năm qua và sự điều chỉnh phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến n 3 năm 2010 như trên, đòi hỏi cần phải đánh giá công tác lập quy hoạch sử dụng đất phù hợp với yêu cầu sử dụng đất của các ngành trong tình hình mới. Xuất phát từ thực tiễn đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá công tác lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2005-2010. Liên hệ thực tế tại huyện Na Rì.
Mục tiêu, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục tiêu Thông qua việc nghiên cứu nhằm đánh giá việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì giai đoạn 2005-2010; đề xuất các giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Yêu cầu - Các số liệu về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì giai đoạn 2005-2010 phải đầy đủ, chính xác. - Phải phân tích, đánh giá được việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đưa ra các giải pháp cụ thể việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì trong thời gian tới theo hướng hiệu quả và bền vững.3 Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện.
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì giai đoạn 2005 - 2010. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì. n 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Bản chất của quy hoạch sử dụng đất “Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính.), tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.
Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định. Về mặt bản chất: đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế. Trong đó: - Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai.
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu. - Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật. Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu n 5 quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường". Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định.
Tính hợp lý: Đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng. Tính khoa học: Áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Tính hiệu quả: Đáp ứng đồng bộ các lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường. Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường. Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; Xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - n 6 xã hội và các hậu quả khó lường về những tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân.