Đặt vấn đề Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng nền tảng của sự sống và mọi hoạt động sản xuất của con người đều bắt nguồn từ đất đai. Đất đai là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia, là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt cho các ngành kinh tế. Đất đai còn là không gian của sự sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, không thể thay thế và di chuyển theo ý muốn chủ quan của con người.
Theo Luật đất đai 2003 (Khoản 1, Điều 5) [8]: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Hiện nay nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa cùng sự tăng nhanh của dân số và phát triển của nền kinh tế đã gây áp lực rất lớn đới với đất đai, trong khi đó diện tích đất lại không hề gia tăng, điều này đòi hỏi con người phải biết cách sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai có giới hạn đó. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay các vấn đề về đất đai là một vấn đề hết sức nóng bỏng, các vấn đề trong lĩnh vực này ngày càng phức tạp và nhạy cảm. Do đó hoạt động quản lý đất đai của Nhà nước có vai trò rất quan trọng để quản lý, xử lý các trường hợp vi phạm.
ĐKĐĐ thực chất là thủ tục hành chính bắt buộc nhằm thiết lập một hệ thống HSĐC đầy đủ và cấp GCNQSDĐ cho chủ sử dụng đất hợp pháp, thiết lập mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất trên cơ sở đó Nhà nước nắm chắc, quản chặt toàn bộ đất đai theo pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng được bảo vệ, đảm bảo đất đai ngày càng được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Mặt khác, nó còn tạo điều kiện thuận e 2 lợi cho người dân sử dụng đất ổn định lâu dài đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, điều đó góp phần ổn định kinh tế chính trị, xã hội. Trên thực tế hiện nay công tác này ở một số địa phương diễn ra rất chậm, hiệu quả công việc chưa cao, tình trạng quản lý lỏng lẻo, tài liệu chưa chính xác, việc mua bán chuyển nhượng đất đai diễn ra ngầm chưa thông qua cơ quan nhà nước, tình hình lấn chiếm, tranh chấp đất đai vẫn còn xảy ra nhiều. Huyện Sóc Sơn cũng không nằm ngoài thực tế chung đó.
Mặc dù trong thời gian qua được sự quan tâm của các cấp, các ngành song công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn do nhiều nguyên nhân tác động. Xuất phát từ thực tế cũng như nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của vấn đề đồng thời được sự phân công của khoa Quản lí Tài nguyên cùng sự hướng dẫn của thầy giáo - PGS.TS Lương Văn Hinh, em tiến hành nghiên cứu đề tài : “Đánh giá công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2014”. Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích - Tìm hiểu thực trạng về ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC tại huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội.
- Đưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC trong thời gian tới của huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội. Yêu cầu - Nắm vững những quy định của pháp luật về đất đai hiện hành, những quy định về ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC của Bộ Tài nguyên Môi trường của tỉnh và của huyện. e 3 - Tìm hiểu những quy định của nhà nước, ngành, địa phương về công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, lập HSĐC. - Hiểu rõ các quy trình, quy phạm, văn bản về đăng ký, cấp GCN và lập HSĐC.
- Số liệu điều tra, thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác. - Những đề xuất, kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Bổ sung những kiến thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế và hiểu rõ hơn về công tác quản lý Nhà nước về đất đai, cụ thể là công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài giúp tìm ra được những thuận lợi, khó khăn của công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC để từ đó rút ra những giải pháp khắc phục, góp phần đẩy nhanh công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận của đề tài - Đối với Nhà nước: Đối với mỗi quốc gia, đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, song thực tế đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian. Đặc biệt trong những năm gần đây, Việt Nam đang tiến hành Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, chuyển từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Nó đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ đồng thời nhu cầu sử dụng đất cũng tăng lên và làm cho công tác quản lý, sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm cũng ngày càng trở nên phức tạp. Quản lý thửa đất là một trong những nội dung quan trọng nhất của quản lý đất đai. Công tác quản lý đất đai chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi mỗi thửa đất nằm trong diện được cấp GCN đều được cấp GCN. Đối với nước ta, việc cấp GCN có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết những vấn đề tồn đọng trong lịch sử về quản lý và sử dụng đất; giải quyết có hiệu lực hiệu quả về tranh chấp đất đai góp phần thúc đẩy nhanh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất.
Đồng thời với công tác ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ nhà nước tiến hành xây dựng hệ thống HSĐC. Đây là tài liệu cơ sở pháp lý quan trọng để phục vụ cho việc theo dõi, quản lý của nhà nước đối với các hoạt động liên quan đến đất đai, là dữ liệu địa chính để xây dựng hệ thống thông tin đất đai. - Đối với người sử dụng đất: GCN là chứng thư pháp lý xác lập và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi e 5 cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất như: Chuyển quyền, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp,…. - Đối với xã hội: Hệ thống thông tin đất đai được xây dựng từ kết quả cấp GCN sẽ được kết nối với hệ thống các cơ quan có liên quan, với hệ thống các tổ chức tài chính khi được lên mạng thông tin điện tử sẽ giúp cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có thể tìm hiểu đất đai một cách thuận lợi và nhanh chóng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của xã hội.
GCN tạo thuận lợi cho giao dịch bất động sản, tạo điều kiện huy động vốn đầu tư thông qua hoạt động thế chấp vốn. Hệ thống thông tin đất đai có tác dụng đắc lực trong việc phòng chống tham nhũng về đất đai. Cơ sở pháp lý của đề tài Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành các văn bản pháp luật về thống nhất quản lý đất đai, các văn bản về ruộng đất trước đây đều bị bãi bỏ. Năm 1980, Hiến pháp ra đời đã quy định hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai: Đó là hình thức sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý.
Từ đó, công tác ĐKĐĐ, cấp GCN và lập HSĐC được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo thông qua hệ thống các văn bản pháp luật sau: - Ngày 05/11/1981, Tổng cục quản lý ruộng đất ban hành quyết định 56/QĐ-ĐKTK quy định về thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước. - Ngày 04/07/1989 Tổng cục quản lý ruộng đất ban hành quyết định số 201/QĐ-ĐKTK về ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ. - Quyết định số 499/QĐ-ĐC ngày 27/07/1995 của Tổng cục địa chính quy định mẫu sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp GCNQSDĐ và sổ theo dõi BĐĐĐ. - Thông tư liên tịch số 1442/TTLT-TCĐC-BTC ngày 21/09/1999 của Bộ Tài chính và Tổng cục Địa chính hướng dẫn cấp GCNQSDĐ theo Chỉ thị số 19/1999/CT-TTg.
e 6 - Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/01/2000 của Chính phủ quy định về điều kiện được cấp xét và không được cấp GCNQSDĐ. - Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục địa chính hướng dẫn các thủ tục ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC. - Luật đất đai 2003 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26/11/2003 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004. - Luật đất đai 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 09/12/2013.
Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2014. - Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn lập chỉnh lý và quản lý HSĐC. - Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cấp GCNQSDĐ thay thế cho quyết định số 24/2004/QĐ- BTNMT ngày 01/11/2004. - Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý HSĐC.
- Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 quy định về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Thông tư 106/2010/TT-BTC ngày 26/07/2010 hướng dẫn lệ phí cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Thông tư 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 quy định bổ sung về GCNQSDĐ, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư số 09//2011/TT-BTNMT ngày 31/03/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách Nhà nước về đo đạc đất đai phục vụ cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Khái quát về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính 2.