đặt vấn đề quản lý đất đai là vấn đề quan trọng hàng đầu. Ngay từ rất sớm, Nhà nước ta đã nhận định được giá trị, tầm quan trọng to lớn đó của đất đai. Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980. Từ năm 1986 đến năm 1992, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng.
Quốc hội quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới trong quá trình quản lý sử dụng đất. Hiến pháp này quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có hiệu lực, có quy định đất đai thuộc phạm vi cả nước đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Với vai trò đặc biệt quan trọng và tính chất đặc biệt của đất đai như giới hạn về không gian, nhưng lại vô hạn về thời gian sử dụng,.do vậy đất đai càng phải được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả.
Có thể thấy rằng trước khi luật đất đai ra đời, cơ sở lý luận của công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận đã được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật về đất đai như ngày 10/11/1980 Thủ tướng Chính Phủ ban hành chỉ thị 299/TTG với nội dung phân hạng, đo đạc đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nước, hiến Pháp nước cộng hòa XHCN Việt Nam. Sau khi luật đất đai 1993 ra đời, có hàng loạt các văn bản về giao đất, cấp đất, cho thuê đất sử dụng ổn định, lâu dài đối với tổ chức, hộ gia đình cá nhân. Và công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác quản lý của Nhà nước đối với đất đai. Luan van 14 - Luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành 01/07/2004 có quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý, sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
-Sau luật đất đai 2003 đưa vào sử dụng, chính phủ đã ban hành Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành luật đất đai. Và gần đây nhất là luật đất đai 2013 có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2014, nghị định số 43/2014/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013. Đã nâng tầm quan trọng của công tác đăng ký đất đai lên mức tối đa. Điều 95, luật đất đai 2013 có quy định rõ: Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý.
Đăng ký trên giấy và đăng ký điện tử đều có giá trị pháp lý như nhau. Có thể thấy rằng, tầm quan trọng của công tác đăng ký đất đai chưa bao giờ được Nhà nước xem nhẹ. Nó kéo dài trong suốt quá trình hình thành, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật cho đến nay, công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận hiện nay vẫn chưa thể hoàn thiện trên hầu hết các địa phương trên toàn quốc. Cùng với đó là Nhà nước ta đang xây dựng hệ thống thông tin đất đai theo hướng tin học hóa, điện tử hóa.
Muốn xây dựng được hệ thống thông tin đất đai điện tử thì đăng ký đất đai chính là cơ sở là nguồn dữ liệu đầu vào và đầu ra, là đối tượng quản lý của hệ thống. Một lần nữa, vai trò, tầm cỡ của đăng ký đất đai lại được khẳng định, đòi hỏi tính cấp thiết phải nhanh chóng hoàn thiện công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận trên toàn quốc, đặc biệt là tại các đô thị phát triển, nơi tỷ lệ cấp GCN chưa cao, trong khi đó tỷ lệ vi phạm pháp luật về đất đai ngày một tăng, nảy sinh nhiều vấn đề trong công tác cấp GCN. Nhà nước ta đã đưa công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận thành một trong mười năm nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, được quy rõ tại Điều 22 luật đất đai 2013, theo thời gian hệ thống chính sách pháp luật đất đai của nước ta sẽ hoàn thiện thích hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập với thế giới. Nhưng nhìn chung, theo luật đất đai và hướng dẫn thi hành luật đất đai thì thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận sẽ đơn giản hơn, đã cho những người dân, người sử dụng đất thấy được sự nỗ lực trong việc đổi mới, rút bỏ những thủ tục rườm rà, rút ngắn thời gian đăng ký, cấp Luan van 15 giấy chứng nhận.
Bộ tài chính kết hợp với bộ Tài Nguyên và Môi Trường xem xét nghĩa vụ tài chính để phù hợp với từng hoàn cảnh nhằm tháo gỡ những khó khăn cho người dân, người sử dụng đất khi họ làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận. Như vậy Nhà Nước ta đã cố gắng hoàn thiện hệ thống pháp lý về đất đai, tạo điều kiện hết sức có thể, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân. Căn cứ pháp lý của đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Các hệ thống văn bản pháp luật làm căn cứ pháp lý cho công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: - Luật Thủ đô ngày 21/11/2012; - Luật Đất đai ngày 29/11/2013; - Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 13/10/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, kinh doanh bất động sản, khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý phát triển nhà ở và công sở; - Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính; - Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013; - Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất; - Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; - Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; - Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; Luan van 16 - Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP của Chính phủ; - Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở; - Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 của Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ và trình tự thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất; - Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; - Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; - Quyết định số 12/2017/QĐ-UBND ngày 31/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội quy định về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài; chuyển mục đích sử dụng đất vườn, ao liền kề và đất nông nghiệp xen kẹt trong khu dân cư sang đất ở trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
- Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; - Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; - Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công; - Quyết định số 24/2018/QĐ-UBND ngày 15/10/2018 của UBND thành phố Hà Nội quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với Luan van 17 đất cho hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài; chuyển mục đích sử dụng đất vườn, ao liền kề và đất nông nghiệp xen kẹt trong khu dân cư sang đất ở trên địa bàn Thành phố Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số 12/2017/QĐ-UBND ngày 31/3/2017 của ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội; - Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; 1.Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: - Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Theo khoản 1 Điều 105 Luật đất đai 2013, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.