MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, là nguồn gốc của mọi tài sản vật chất của con người. Dựa vào đất chúng ta có lương thực, thực phẩm, trang phục, khoáng sản, năng lượng, nguyên vật liệu, mặt bằng để xây dựng nhà ở… Để có đất sử dụng cho các mục đích khác nhau thì sự phân bố và sử dụng hợp lý quỹ đất chính là chìa khóa cần thiết có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của con người. Vấn đề quản lý và sử dụng đất càng trở lên quan trọng trong bối cảnh bùng nổ dân số, tài nguyên cạn kiệt và suy thoái môi trường ngày càng nghiêm trọng do hoạt động của con người.
Hiện nay công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính đang trở nên phức tạp và quan trọng. Thực tế, đất đai có hạn về diện tích trong khi nhu cầu về đất thì lại tăng lên không ngừng đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang phát huy tối đa sức mạnh sau khi gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) để hội nhập chung với xu thế hội nhập toàn cầu. Việt nam đang trở thành một nền kinh tế lớn trên thế giới. Đặc biệt, trong thời đại của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, sự hình thành các đô thị lớn, siêu đô thị, các đô thị thông minh thì công tác quản lí nhà nước về đất đai ngày càng phức tạp đòi hỏi công tác đăng kí cấp GCNQSDĐ phải được nâng cao hơn nữa.
Thực trạng tranh chấp, khiếu kiện về đất đai vẫn xảy ra phổ biến do việc cấp đổi việc chuyển quyền sử dụng đất vẫn thiếu sót. Đây là sự thất thoát lớn về tài chính cho ngân sách Nhà nước. Nguồn thu tiền sử dụng đất đang mang lại cho Nhà nước một nguồn tài chính rất lớn. Nếu làm tốt công tác quản lí nhà nước về đất đai nói chung và công tác cấp giấy CNQSDĐ nói riêng là cơ sở để tái xây dựng lại các đô thị theo xu hướng hiện đại đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của người dân.
Tuy nhiên cũng chính những yếu tố này đã làm cho quan h 2 hệ đất đai ngày càng phức tạp, đất đai luôn biến động và việc quản lý sử dụng đất cũng có nhiều bất cập. Việc thực hiện nội dung đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính ở các địa phương thường gặp nhiều khó khăn. Xã Khe Mo với những đặc điểm địa lý và tự nhiên có nhiều thuận lợi, quỹ đất còn khá dồi dào so với các xã phường trong thành phố Thái Nguyên cũng như trung tâm huyện Đồng Hỷ đã và đang thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư. Nhiều hoạt động sản xuất, dịch vụ, thương mại đang phát triển rầm rộ không ngừng.
Đặc biệt trong những năm trở lại đây, việc phát triển rừng sản xuất nhất là cây Keo đã mang lại sinh kế lớn cho người dân nơi đây. Chính vì vậy đất đai càng có giá trị. Bên cạnh đó là sự mở rộng không gian đô thị của thành phố Thái Nguyên đã đẩy trung tâm của huyện Đồng Hỷ đến sát xã Khe Mo làm biến động địa giới hành chính. Sự đô thị hóa được đẩy mạnh hơn.
Sự phát triển đó đã đem lại nhiều thách thức cho công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện cũng như xã Khe Mo. Xuất phát từ thực tế trên, được sự phân công của Khoa Quản Lý Tài Nguyên, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, sự giúp đỡ của Trung tâm kỹ thuật Tài Nguyên và Môi Trường - Tỉnh Thái Nguyên cùng sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Đỗ Sơn Tùng - Giảng viên chính Khoa Quản Lý Tài Nguyên, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Đánh giá công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính đến năm 2019 tại xã Khe Mo, Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Tìm hiểu thực trạng công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính đến năm 2019 tại xã Khe Mo, huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục khó khăn, đẩy mạnh và h 3 nâng cao chất lượng công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính trên địa bàn xã Khe Mo trong thời gian tới.
Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Bổ sung hoàn thiện kiến thức đã được học trong nhà trường cho bản thân. Đồng thời tiếp cận và thấy được những thuận lợi và khó khăn của công tác kê khai cấp GCNQSD đất đai trong thực tế. Nắm vững những quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản dưới Luật về đất đai của Trung ương và địa phương về cấp GCNQSDĐ.
Ý nghĩa trong thực tiễn Qua quá trình nghiên cứu cấp GCNQSDĐ sẽ thấy được những việc đã làm được và chưa làm được trong quá trình thực hiện, từ đó rút ra những kinh nghiệm và tìm những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế nhằm thúc đẩy công tác thực hiện cấp GCNQSDĐ nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Thực trạng đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính của Việt Nam Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường ngày 15/08/2013: tính đến ngày 30/6/2013, cả nước đã cấp được 36,000 triệu giấy chứng nhận với tổng diện tích 20,12 triệu ha, đạt 83,2% diện tích cần cấp giấy chứng nhận của cả nước, tăng 2,0% so với năm 2012. Đến nay, cả nước có 11 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho các loại đất chính (đạt từ 85-100 % diện tích) gồm Bình Dương, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Đồng Nai, Quảng Trị, Hậu Giang, Cần Thơ; ngoài ra còn có 10 tỉnh khác cơ bản hoàn thành ở hầu hết các loại đất chính gồm Lạng Sơn, Hải Dương, Hà Nam, Hưng Yên, Quảng Bình, Đà Nẵng, Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Song cũng còn nhiều tỉnh, thành phố có kết quả cấp giấy chứng nhận ở nhiều loại đất chính còn đạt thấp (dưới 70% diện tích cần cấp), đặc biệt là các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Gia Lai, Đăk Nông. Về tình hình cấp giấy chứng nhận các loại đất chính như sau: [1] - Về đất ở đô thị: Cả nước đã cấp được 4.800 giấy với diện tích 106. Đã có 34 tỉnh đạt trên 85%; còn 29 tỉnh đạt dưới 85%, trong đó 10 tỉnh đạt thấp dưới 70%. - Về đất ở nông thôn: Cả nước đã cấp được 11.000 giấy với diện tích 465.
Có 35 tỉnh đạt trên 85%, còn 28 tỉnh đạt dưới 85%; trong đó có 9 tỉnh đạt thấp dưới 70%. - Về đất chuyên dùng: Cả nước đã cấp được 182.131 giấy với diện tích 483. Có 19 tỉnh đạt trên 85%; còn 44 tỉnh đạt dưới 85%; h 5 trong đó có 16 tỉnh đạt dưới 50%. - Về đất sản xuất nông nghiệp: Cả nước đã cấp được 17.400 giấy với diện tích 8.
Còn 33 tỉnh đạt trên 85%, có 30 tỉnh đạt dưới 85%; trong đó có 12 tỉnh đạt dưới 70%. - Về đất lâm nghiệp: Cả nước đã cấp được 1.900 giấy với diện tích 10. Có 20 tỉnh đạt trên 85%, có 41 tỉnh cấp đạt dưới 85%; trong đó có 25 tỉnh đạt dưới 70%. Hiện có gần 5,4 triệu thửa đất còn tồn đọng, chưa được cấp GCN, tương đương 2,1 triệu ha.
Hai thành phố là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh có tồn đọng lớn cả đối với thửa đất và đối với các căn hộ thuộc các dự án phát triển nhà ở. Trong đó Hà Nội là 168.000 thửa đất và khoảng 500 nghìn căn hộ; TP.Hồ Chí Minh là 311.000 thửa đất và căn hộ. Đã xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại 49 tỉnh, thành phố và 90 quận, huyện; một số tỉnh, huyện cơ bản đã hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng, phát huy hiệu quả, tích cực cho công tác quản lý đất đai. Vai trò của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và lập hồ sơ địa chính Đối với mỗi quốc gia, đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là nội lực để phát triển đất nước, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng và đặc biệt là tư liệu sản xuất không gì thay thế được trong nông nghiệp.
Tuy nhiên, thực tế tài nguyên đất lại có hạn về diện tích và cố định trong không gian trong khi nhu cầu về đất đai ngày càng tăng lên. Do vậy bất kỳ quốc gia nào cũng đặt nhiệm vụ quản lý đấy đai lên hàng đầu. [2] Đối với nước ta, những năm gần đây thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với đó là tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh và sự gia tăng dân số dẫn đến nhu cầu đất ở và đất sản xuất gia tăng gây sức ép lớn đến quỹ đất nông nghiệp nói riêng là quỹ đất đai nói chung. Vì vậy mà công tác quản lý đất đai luôn được nhà nước quan tâm.
Trong các nội dung quản lý nhà nước về đất h 6 đai, công tác đăng ký cấp GCN và lập HSĐC giữ vai trò vô cùng quan trọng. [2] Công tác đăng ký, cấp GCN và lập HSĐC là một công cụ để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng cũng như lợi ích của người dân. Tuy nhiên trong những bối cảnh nhất định nó cũng gặp những khó khăn trên cả phương diện chủ quan lẫn khách quan. [2] Đối với Nhà nước và xã hội việc cấp GCN, lập HSĐC đem lại những lợi ích đáng kể như: - Cung cấp tư liệu phục vụ các chương trình cải cách đất đai trong đó bản thân việc triển khai một hệ thống đăng kí đất đai cũng là một hệ thống pháp luật; - Giám sát việc giao dịch về đất đai; - Phục vụ việc thu thuế sử dụng đất, thuế tài sarnn thuế sản xuất nông nghiệp, lệ phí trước bạ.