ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai thì công việc cần thiết đầu tiên là phải hoàn thiện hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng từ pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước và người sử dụng đất. Đây là yếu tố quan trọng góp phần vào việc nắm chắc quỹ đất đai của từng địa phương, giúp cho việc quy hoạch sử dụng hợp lý từng loại đất tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất.
Trên thực tế việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtở nước ta từng bước tạo cơ sở pháp lý, giúp người sử dụng đất thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, yên tâm đầu tư sản xuất phát huy tốt tiềm năng của đất và sử dụng đạt hiểu quả kinh tế cao nhất. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm và không đồng đều, ở những vùng khác nhau thì tiến độ thực hiện cũng khác nhau. Một số địa phương đã cơ bản hoàn thành nhưng một số địa phương vẫn còn chậm và chưa đáp ứng kịp xây dựng và đổi mới đất nước. Vì vậy để khắc phục những tồn tại đó thì việc làm cần thiết là thực hiện tốt công tác quản lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy chủ cho các thửa đất để quản lý và sử dụng đất đai có hiệu quả và theo đúng quy định của pháp luật.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp của ThS. Vũ Thị Kim Hảo, em đã tiến hành thực hiện đề tài: h 2 "Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấttrên địa bàn Xã Bảo Cường, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên năm 2017". Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấttrên địa bàn xã Bảo Cường, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tìm ra những mặt tốt và những mặt chưa làm được của địa phương trong công tác này.
Mục tiêu cụ thể Đánh giá thực trạng cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Bảo Cường. Đánh giá hiệu quả của việc cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Bảo Cường. Đề xuất một số giải pháp khắc phục những khó khăn, tồn tại để đẩy nhanh công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấttại địa phương. Ý nghĩa của đề tài Đối với việc học tập và hoàn thiện đề tài sẽ là cơ hội cho bản thân củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận với công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấttrên thực tế.
Đối với thực tiễn đề tài đánh giá, phân tích những thuận lợi khó khăn của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ đó đề xuất những giải pháp thích hợp, phù hợp với với điều kiện thực tế của địa phương góp phần đẩy nhanh công tác này trong thời gian tới. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Cơ sở khoa học 2. Vai trò của công tác cấp GCNQSD đất đối với công tác quản lí nhà nước về đất đai Theo Luật Đất đai năm 2013[6] thì: “GCNQSD đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”.
Như vậy GCNQSD đất là chứng thư pháp lý xác định quyền sử dụng đất đai hợp pháp của người sử dụng đất. Đây là một trong những quyền quan trọng được người sử dụng đất đặc biệt quan tâm. Thông qua công tác cấp GCNQSD đất Nhà nước xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng. Công tác cấp GCNQSD đất giúp Nhà nước nắm chắc được tình hình đất đai tức là biết rõ các thông tin chính xác về số lượng và chất lượng, đặc điểm về tình hình hiện trạng của việc quản lý sử dụng đất.
Từ việc nắm chắc tình hình đất đai, Nhà nước sẽ thực hiện phân phối lại đất theo quy hoạch, kế hoạch chung thống nhất. Nhà nước thực hiện quyền chuyển giao, quyền sử dụng từ các chủ thể khác nhau. Cụ thể hơn nữa là Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất. Vì vậy cấp GCNQSD đất là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Vai trò của công tác cấp GCNQSD đất đối với người sử dụng đất. - GCNQSD đất là giấy tờ thể hiện mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước với người sử dụng đất. - GCNQSD đất là điều kiện để người sử dụng đất được bảo hộ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình sử dụng đất. h 4 - GCNQSD đất là điều kiện để đất đai được tham gia vào thị trường bất động sản.Cơ sở pháp lí để triển khai công tác cấp GCNQSD đất 2.1 Các văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành - Hiến pháp năm 2013; - Luật Đất đai năm 2003, 2013; - Nghị quyết số 775/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991 làm cơ sở xác định điều kiện cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp đang sử dụng nhà, đất thuộc diện thực hiện các chính sách quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 nhưng đến nay, cơ quan Nhà nước chưa có văn bản quản lý, hoặc đã có văn bản quản lý nhưng thực tế Nhà nước chưa quản lý, chưa bố trí sử dụng nhà đất đó; - Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia làm cơ sở xác định đối tượng đươc cấp giấy chứng nhận trong các trường hợp có tranh chấp.2 Các văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành - Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, trong đó có quy định cụ thể hóa Luật Đất đai về việc thu tiền thuê đất khi cấp giấy chứng nhận; - Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị Định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; h 5 - Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; - Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất[3]; - Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 198 /2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; - Nghị định số 38/2011/NĐ-CP ngày 26/5/2011 về sửa đổi bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 và Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005; - Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013[3]; - Nghị định số 44/2014/ NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất; - Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất; - Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 29/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003, trong đó có chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong năm 2005; - Chỉ thị số 05/2006/CT-TTg ngày 22/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc khắc phục yếu kém, sai phạm, tiếp tục đẩy mạnh tổ chức thi hành Luật Đất đai, trong đó, chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận trong năm 2006; h 6 2.3 Các văn bản thuộc thẩm quyền của các Bộ, ngành ở Trung ương ban hành - Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; - Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 26/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Thông tư số 16/2011/TT-BTNMT ngày 20/5/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai; - Thông tư số 17/2012/TT-BTNMT ngày 04/10/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính; - Thông tư số 20/2012/TT-BTNMT ngày 22/10/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (có hiệu lực từ 05/7/2014)[1]; - Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hồ sơ địa chính (có hiệu lực từ 05/7/2014); - Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; - Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất[1]; - Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nội dung quản lí nhà nước về đất đai Cấp GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤTlà 1 trong 15 nội dung quản lí nhà nước về đất đai được quy định tại khoản 7 điều 22 luật đất đai 2013[6].