Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Một số khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất - Khái niệm về thu hồi đất: Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Theo khoản 11 Điều 13 Luật Đất đai năm 2013). Hình thức này thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.
Vì vậy, việc thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, phát triển KT-XH, đồng thời lặp lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai. Thẩm quyền thu hồi đất được quy định tại Điều 66, Luật Đất đai 2013 và có 2 trường hợp thu hồi đất là là “Thu hồi đất theo quy hoạch” (quy định tại điều 61, điều 62 của Luật đất đai năm 2013) và “Thu hồi đất không cần theo quy hoạch” (quy định tại điều 64, điều 65 của Luật đất đai năm 2013) - Khái niệm về Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra từ rất sớm. Bắt đầu từ năm 1959 đã có nhiều văn bản, quy phạm pháp luật quy định về vấn đề này như Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất (Chương II đề cập việc bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng); tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối. Khi Luật Đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất n 5 có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, thuật ngữ "bồi thường" được thay thế bằng thuật ngữ "đền bù".
Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 2001 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ "bồi thường" được sử dụng trở lại và tiếp tục xuất hiện trong các văn bản lần sau. Luật Đất đai năm 2013 quy định: Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (theo khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013) có thể hiểu Bồi thường có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác. Điều kiện được bồi thường về quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là: Người sử dụng đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa được cấp (Điều 74 và Điều 75, Luật Đất đai 2013); Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở. Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền; nếu địa phương có quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở (Điều 79, Luật Đất đai 2013); Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất,… (Điều 76, Luật Đất đai 2013); bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất mà phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại (Điều 88, Luật Đất đai 2013); Bồi thường công trình, vật kiến trúc, cây trồng vật nuôi liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 89, điều 90, Luật đất đai năm 2013); Bồi thường về di chuyển mộ (Điều 18, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP); - Khái niệm về Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Luất đất đai cũng quy định “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.
Định nghĩa về hỗ trợ quy định tại Luật Đất đai năm 2013 đã có sự khác biệt so với Luật Đất đai năm 2003, quy định này nhấn mạnh n 6 đến việc ổn định đời sống của nhân dân khi Nhà nước thu hồi đất. Điều này khẳng định việc hỗ trợ bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật (Điều 83, Luật Đất đai 2013). Trên thực tế, trong quá trình thu hồi đất, nhiều người sau khi nhận được khoản tiền hỗ trợ đã sử dụng vào mục đích mua sắm, không cần thiết gây lãng phí dẫn đến phần nào tình trạng thất nghiệp, cuộc sống khó khăn. Để bảo đảm an sinh xã hội, giúp người bị thu hồi đất có cuộc sống ổn định sau khi bị thu hồi, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ như: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư (Điều 22, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP), hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống (Điều 19, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP; Điều 19, Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT), hỗ trợ tạo việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp (Điều 84, Luật Đất đai 2013) và các hỗ trợ khác (Điều 25, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP).
Nếu bồi thường là Nhà nước trả cho người sử dụng đất những thiệt hại về đất và tài sản trên đất khi thu hồi đất, thì hỗ trợ là Nhà nước giải quyết những hậu quả xảy ra sau bồi thường. - Khái niệm về Tái định cư: Tái định cư (TĐC) là việc di chuyển chỗ ở đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn. Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển (Nguyễn Bá Long và Xuân Thị Thu Thảo, 2014). TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó.
Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế, xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung. Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức: Bồi thường bằng giao đất ở mới; Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở hoặc Bồi thường bằng nhà ở (Phan Trung Hiền, 2017ª); n 7 Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB và giúp người bị thu hồi đất ổn định nơi ở 1. Đặc điểm về quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Trong quy định giải phóng mặt bằng thì chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đảm bảo việc bồi hoàn đất đai, tài sản trên đất bị thu hồi đúng đối tượng, đúng chính sách và hơn nữa là đảm bảo ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất bằng những chính sách phù hợp để tạo hướng phát triển nghề nghiệp ổn định, đặc biệt là an sinh xã hội. - Tính đa dạng: mỗi dự án được tiến hành trên một vị trí địa lý khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội dân cư khác nhau, có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể.
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống KT-XH, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân. Tùy từng tình hình cụ thể, đối tượng bị thu hồi đất, cơ quan nhà nước phải có chính sách, hỗ trợ, bồi thường, tái định cư hợp lý, đối với trường hợp đất đai là tư liệu sản xuất thì cần thiết phải hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp để bảo đảm đời sống nhân dân (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, 2006). Trình tự về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Theo khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 về trình tự bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC được quy định như sau: a. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.
n 8 Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện UBND cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền; b. Cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi trình UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1.
Công tác quản lý Nhà nước về Đất đai Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền KT-XH. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế.