MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chính sách bảo hộ lao động (BHLĐ) là trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Ngay từ cách mạng tháng Tám và nhất là từ ngày hòa bình lập lại, Đảng và Nhà nước ta đã luôn luôn quan tâm đến công tác bảo hộ lao động. Làm tốt công tác bảo hộ lao động không những có ý nghĩa chính trị to lớn mà còn mang lại nhiều lợi ích khác nữa.
Bảo hộ lao động vừa là yêu cầu cần thiết của sản xuất, vừa là quyền lợi, nguyện vọng chính của Đảng của người lao động, là biểu hiện thiết thực nhất chăm lo đời sống, hạnh ph1úc của họ. Ngoài ra, bảo hộ lao động đóng một vai trò rất lớn trong kinh tế cũng như trong xã hội. Nó thể hiện quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Do đó, bảo hộ lao động là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển chung về kinh tế – xã hội, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chính vì vậy, hơn 55 năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật để chỉ đạo công tác bảo hộ lao động ở nước ta như: Điều lệ tạm thời về bảo hộ lao động được Hội đồng Chính phủ ban hành tháng 12/1964; Pháp lệnh bảo hộ lao động được Hội đồng nhà nước ban hành tháng 09/1991; Ngày 01/05/1991, Chính ph ủ đã ra quyết định thành lập viện nguyên cứu khoa học kỷ thuật bảo hộ lao động và giao cho Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam trực tiếp quản lý. Trên cơ sở của qui mô hoạt động và những thành tích trong công tác khoa học công nghệ an toàn – vệ sinh lao động (AT- VSLĐ) và bảo vệ môi trường, ngày 01/05/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 141/1998/TTg xếp viện bảo hộ lao động vào hệ thống các viện trọng điểm đầu ngành quốc gia. Trong thời gian qua, nước ta có sự chuyển biến – đổi mới rất đáng kể về mọi mặt như: kinh tế, chính trị, xã hội mà đặc biệt là kinh tế. Nhất là sau khi luật doanh nghiệp có hiệu lực năm 2000 thì nền kinh tế có sự chuyển mình một cách rõ rệt.
Từ đây, các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân điều phát triển một cách mạnh mẽ hơn. Bên cạnh việc đầu tư phát triển sản xuất sao cho hiệu quả, đòi hỏi bắt buộc đối với một nền sản xuất hiện đại là sản xuất phải đảm bảo an toàn – vệ sinh lao động (AT-VSLĐ). Hầu hết các nước có ngành kinh tế phát triển trên thế giới đều rất coi 11 trọng ngành bảo hộ lao động (BHLĐ). Riêng ở Việt Nam, công tác BHLĐ đã có từ lâu và càng ngày phát triển trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Với cách nhìn nhận con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, việc chăm lo đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khỏe cho người lao động có một ý nghĩa to lớn không chỉ vì bảo vệ động lực chính của sự phát triển sản xuất mà trước hết còn vì sức khỏe, cuộc sống và hạnh phúc của người lao động. Từ góc độ này, một khi con người được chăm sóc, bảo vệ tốt sẽ có điều kiện, sức khỏe, thể lực để lao động, sáng tạo và phát huy nhân cách tốt đẹp của mình. Do đó, việc chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo đảm an toàn và sức khỏe cho người lao động sẽ có một ý nghĩa thiết thực. Trong các ngành công nghi ệp tại Việt Nam thì ngành công nghiệp thuốc lá đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Ngành thuốc lá Việt Nam tính tới thời điểm hiện tại có 14 đơn vị sản xuất và kinh doanh thuốc lá với gần 10. Trong đó, lao động nữ chiếm khoảng 50% so với các ngành khác. Công nhân trong ngành thuốc lá đã và đang làm việc trong điều kiện lao động còn nhiều vấn đề đáng quan tâm. Sức khỏe và khả năng lao động của công nhân trực tiếp sản xuất do vậy cũng bị ảnh hưởng rất lớn.
Do đó, công tác AT-VSLĐ cần được tăng cường và củng cố để hoàn thiện hơn nhằm nhằm đảm bảo sức khỏe cho người lao động và môi trường xung quanh. An toàn – vệ sinh lao động ở các cơ sở sản xuất chưa có được hiệu quả mong muốn, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là các cơ sở sản xuất chưa đánh giá đúng thực trạng an toàn – vệ sinh lao động. Đây chính là cơ sở để chọn tên đề tài luận văn tốt nghiệp: “Đánh Giá Thực Trạng Công Tác BHLĐ Ở Nhà Máy Thuốc Lá Sài Gòn (Cơ Sở 2) Và Những Biện Pháp Khắc Phục” nhằm góp phần vào việc ngăn ngừa những yếu tố nguy hiểm, độc hại gây ra cho người lao động cũng như làm rõ hơn thực trạng và điều kiện lao động của ngành thuốc lá ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế. Mục tiêu nghiên cứu Xác định các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường lao động của nhà máy thuốc lá Sài Gòn.
Xây dựng qui trình đánh giá thực trạng công tác BHLĐ tại nhà máy thuốc lá Sài Gòn. Một số yếu tố môi trường tại các dây chuyền sản xuất ở các phân xưởng. Toàn bộ số công nhân lao động tực tiếp trong nhà máy. Nghiên cứu, đề xuất giải pháp để cải thiện điều kiện lao động, nâng cao hiểu biết BHLĐ và MTLĐ cho người lao động, phù hợp với điều kiện làm việc trong nhà máy.
Nội dung nghiên cứu Hệ thống toàn bộ tài liệu, văn bản về pháp luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, hướng dẫn qui trình, qui phạm, tiêu chuẩn về An Toàn – Vệ Sinh Lao Động trong nhà máy thuốc lá Sài Gòn. Thu thập số liệu về tình hình môi trường lao động trong nhà máy: vi khí hậu, tiếng ồn, ánh sáng, nồng độ bụi …… từ đó so sánh, đánh giá mức tiêu chuẩn vệ sinh cho phép của môi trường lao động. Thu thập số liệu, điều tra khảo sát tình hình điều kiện lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và sức khỏe người lao động tại nhà máy thuốc lá Sài Gòn trong thời gian qua và dự báo khả năng bệnh nghề nghiệp xảy ra. Đánh giá tình hình tổ chức, quản lý, điều hành công tác BHLĐ.
Đánh giá mức độ an toàn của máy móc, thiết bị công nghệ nhà xưởng, bố trí mặt bằng sản xuất. Đánh giá tổng quát các đặc điểm môi trường lao động của nhà máy. Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ sức khỏe người lao động. Phương pháp nghiên cứu Hồi cứu hồ sơ, tài liệu của nhà máy.
Phân tích, tổng hợp số liệu nhận được. Khảo sát dây chuyền công nghệ ở nhà máy và đưa ra nhận định, đánh giá. Tham khảo tài liệu, sách, tập san.v……… Quan sát thực tế và đánh giá. 13 Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Một số khái niệm cơ bản về lĩnh vực BHLĐ 2. Bảo hộ lao động Bảo hộ lao động là hệ thống các biện pháp về mặt pháp luật, kinh tế, xã hội, kỹ thuật, tổ chức và các biện pháp phòng ngừa khác để bảo vệ sức khỏe và khả năng lao động của người lao động trong quá trình lao động. Điều kiện lao động Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, tổ chức, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại c ủa chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện lao động nhất định cho con người trong quá trình lao động. Tai nạn lao động Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, công tác do kết quả của sự tác động đột ngột từ bên ngoài làm chết người hoặc phá hủy chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể.
Chấn thương sản xuất Chấn thương sản xuất là sự phá hủy bất ngờ tính toàn vẹn của cơ thể hoặc chức năng sinh lý của tế bà o và cơ quan nội tạng của cơ thể gây nên bởi các yếu tố nguy hiểm phát sinh trong quá trình sản xuất. Bệnh nghề nghiệp Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động tới người lao động. Yếu tố nguy hiểm Các yếu tố nguy hiểm là các yếu tố có thể tác động cách đột ngột lên cơ thể người lao động gây chấn thương, tai nạn lao động. Yếu tố độc hại Yếu tố độc hại là những yếu tố phát sinh trong quá trình sản xuất mà tác động của chúng lên cơ thể người lao động trong những điều kiện xác định sẽ đưa tới nhiễm bệnh hay suy giảm khả năng làm việc.
Vùng nguy hiểm Vùng nguy hiểm là khoảng không gian xác định trong đó các yếu tố nguy hiểm tác động một cách thường xuyên, chu kỳ hoặc bất ngờ dễ gây tai nạn cho người lao động nếu không có biện pháp phòng ngừa. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Thuốc lá là một ngành sản xuất có từ lâu đời ở một số nước trên thế giới. Xứ sở của ngành sản xuất thuốc lá là Bắc và Nam Mỹ và các đảo vùng biển Caribê.
Sau đó người châu Mỹ đưa sang châu Âu và được người Châu Âu xem như là một loại cây công nghiệp, và đưa tiếp sang Châu Á rồi được phát triển vào thế kỷ 17. Do cây thuốc lá sống được các điều kiện khí hậu khác nhau, t ừ vùng nhiệt đới đến vùng ôn đới. Từ đó, diện tích trồng cây thuốc lá ngày càng được mở rộng và kéo theo ngành sản xuất, chế biến thuốc lá cũng được mở rộng và phát triển theo. Quá trình sản xuất thuốc lá từ khâu trồng, chế biến và sản xuất thuốc điếu phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp.
Trong quá trình sản xuất các yếu tố nguy hiểm, có hại luôn được phát sinh và tác động xấu đến cơ thể người lao động. Các nhà sản xuất cũng luôn khuyến cáo rằng: “ Hút thuốc có hại đến sức khỏe”.