Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế ngày càng gia tăng, đổi mới và hoàn thiện công nghệ sản xuất là phương thức căn bản giúp các doanh nghiệp tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đối với ngành chế biến gỗ tại Việt Nam, đặc thù sản xuất thể hiện ở chỗ: một dây chuyền công nghệ tích hợp nhiều thiết bị khác nhau, một thiết bị có thể tham gia vào nhiều công đoạn, trong khi vòng đời của thiết bị và vòng đời công nghệ không đồng nhất. Cùng một hệ thống máy móc, cách thức bố trí mặt bằng nhà xưởng và thiết lập quy trình công nghệ sẽ quyết định trực tiếp đến năng suất lao động và chi phí sản xuất. Việc khảo sát, đánh giá trực diện hiện trạng công nghệ tại từng nhà máy là tiền đề bắt buộc nhằm tìm ra các giải pháp cải tiến công nghệ tại chỗ, giảm thiểu áp lực về vốn đầu tư thiết bị mới.
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Chế biến lâm sản của sinh viên Hoàng Huỳnh Ngư, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Phan Thiết tại Trường Đại học Lâm nghiệp (bảo vệ ngày 30 tháng 5 năm 2012), thực hiện đề tài: “Đánh giá công nghệ sản xuất tại công ty TNHH Hòa Phát”.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Phản ánh toàn diện bức tranh về công nghệ sản xuất tại Công ty TNHH Hòa Phát (tỉnh Bình Dương).
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định hiện trạng công nghệ sản xuất đồ gỗ thực tế tại doanh nghiệp.
- Đánh giá mức độ đáp ứng của công nghệ sản xuất theo các tiêu chí kỹ thuật và tổ chức công nghệ.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm hoàn thiện công nghệ sản xuất đồ gỗ tại đơn vị khảo sát.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công nghệ sản xuất đồ gỗ tại Công ty TNHH Hòa Phát.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Khảo sát thực địa tại Phân xưởng 1 (đặt tại Lồ Ồ, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) của Công ty TNHH Hòa Phát.
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Tập trung khảo sát quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm đại diện là ghế caro nệm cao.
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu được điều tra và thu thập thực tế tại nhà máy phục vụ khóa luận tốt nghiệp năm 2012.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa công nghệ từ quốc tế và trong nước. Các tài liệu được trích dẫn gồm quan điểm của Root (công nghệ là dạng kiến thức áp dụng vào sản xuất tạo ra sản phẩm mới), Ngân hàng Thế giới - World Bank năm 1985 (công nghệ là phương pháp chuyển hóa nguồn lực gồm thông tin, công cụ và sự hiểu biết cơ chế hoạt động), và Sharif năm 1986 (công nghệ gồm bốn thành phần: vật thể, con người, dạng ghi chép và dạng thiết chế tổ chức). Tại Việt Nam, tác giả đối chiếu định nghĩa trong Từ điển kỹ thuật Liên Xô, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, cùng Luật Chuyển giao công nghệ. Khóa luận chọn tiếp cận khái niệm công nghệ theo quan điểm kép của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành các sản phẩm”, bao gồm cả phần cứng (máy móc, thiết bị, dây chuyền) và phần mềm (quy trình, phương pháp, kỹ năng, tài liệu kỹ thuật).
Hệ thống tiêu chí đánh giá công nghệ được tác giả thiết lập phân tách thành hai nhóm:
- Nhóm tiêu chí đánh giá phần cứng:
- Danh mục máy móc thiết bị có đầy đủ và đáp ứng yêu cầu công nghệ sản xuất hay không.
- Tính năng kỹ thuật của từng bộ phận máy và độ chính xác gia công có bảo đảm yêu cầu kích thước chi tiết hay không.
- Mức độ hợp lý của việc bố trí máy móc trong dây chuyền sản xuất đối với dòng lu chuyển phôi liệu.
- Mức độ thuận tiện trong thao tác vận hành và điều kiện bảo đảm an toàn lao động.
- Nhóm tiêu chí đánh giá phần mềm:
- Hình thái đường đi của quá trình công nghệ (đường thẳng hay đường vòng, ngắn hay dài, sự thừa thiếu của các bước công việc).
- Tính hợp lý của trình tự các bước công việc (bước sau có làm hư hại hoặc phá hỏng kết quả của bước trước hay không).
- Mức độ phức tạp của quy trình công nghệ, tính tương thích với năng lực thiết bị sẵn có tại xưởng, mức độ tiêu hao nguyên liệu và phát thải ô nhiễm môi trường.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:
- Phương pháp lý thuyết: Nghiên cứu, vận dụng các lý thuyết đánh giá công nghệ đã công nhận.
- Phương pháp đo đạc: Trực tiếp đo kiểm tra, thu thập thông số kích thước gia công, thời gian chu kỳ và thông số vận hành của từng máy tại hiện trường phân xưởng.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong ngành chế biến gỗ, nhà quản lý tiêu chuẩn và kỹ sư kỹ thuật xưởng.
- Tư duy phân tích: Tổng hợp, xử lý số liệu đo đạc thực địa để đối chiếu với các tiêu chí đánh giá đã xác lập.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề và Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Khóa luận lược khảo lịch sử nghiên cứu về năng lực công nghệ và đánh giá công nghệ. Các công trình quốc tế được tác giả dẫn chứng gồm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, M. Fransman, Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTTT) ở quy mô vĩ mô. Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu của Vũ Cao Đàm, Đặng Mộng Lân, Đặng Ngọc Dinh, Mai Hà, Trần Ngọc Ca (2000), Nguyễn Hoài Giang - Trần Văn Bình - Phạm Minh Việt (2007), Tạ Doãn Trịnh, báo cáo điều tra công nghệ của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ (2008), Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương (2008), Nguyễn Võ Hưng, Nguyễn Thanh Duy, và luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hoàng Anh (2009) tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả khẳng định tại Trường Đại học Lâm nghiệp và Khoa Chế biến lâm sản, nghiên cứu đánh giá công nghệ trực tiếp tại một nhà máy chế biến gỗ cụ thể là hướng đề tài mới chưa có công trình tiền nhiệm.
Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày chi tiết mục tiêu, đối tượng, phạm vi không gian (Phân xưởng 1 tại Lồ Ồ, Dĩ An, Bình Dương), phạm vi sản phẩm (ghế caro nệm cao), cấu trúc ba nội dung nghiên cứu (khảo sát hiện trạng phần cứng/phần mềm, đánh giá theo tiêu chí, đề xuất giải pháp) và bốn phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, phân tích đã nêu ở phần cơ sở phương pháp.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 3 chiếm dung lượng chính của khóa luận, phản ánh toàn bộ kết quả khảo sát thực tế và phân tích kỹ thuật tại Công ty TNHH Hòa Phát.
1. Khái quát về doanh nghiệp khảo sát
Công ty TNHH Hòa Phát (tên giao dịch: HÒA PHÁT CO.) tiền thân là Công ty Thương mại - Dịch vụ - Sản xuất MEKONG Đồng Nai, thành lập theo Giấy phép kinh doanh số 460200974 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp ngày 01/3/2004. Trụ sở chính đặt tại số 44C đường xa lộ Hà Nội, khu phố Hiệp Thắng, phường Bình Thắng, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương; phân xưởng khảo sát đặt tại khu vực Lồ Ồ (Dĩ An, Bình Dương). Doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu đồ gỗ nội thất, ngoại thất và văn phòng làm từ các loại gỗ rừng trồng: cao su, bạch đàn, thông, tràm.
Về thuận lợi, công ty nằm trên trục giao thông Bắc - Nam, nguyên liệu nhập trực tiếp trong nước, nhiều kinh nghiệm gia công xuất khẩu. Về khó khăn, nguyên vật liệu ngày càng khan hiếm, chi phí đầu vào cao trong khi giá xuất khẩu thấp, phụ thuộc thanh toán bằng đồng USD, chưa có showroom trưng bày sản phẩm (chủ yếu dựa vào catalogue tại hội chợ), chưa thành lập phòng kinh doanh xuất nhập khẩu, đội ngũ thợ bậc cao còn thiếu và cơ sở vật chất thiếu máy móc cục bộ dẫn đến phải thuê gia công ngoài.
2. Khảo sát phần cứng công nghệ (Máy móc thiết bị và mặt bằng)
Tác giả đã thống kê, phân tích quy trình vận hành ba bước (trước, trong và sau ca làm việc) cùng các thông số kỹ thuật gia công của 28 loại máy móc chuyên dụng trong xưởng sản xuất:
| STT |
Tên máy móc thiết bị |
Tính năng kỹ thuật và phạm vi kích thước gia công |
Tình trạng vận hành thực tế |
| 1 |
Máy bào hai mặt |
Chiều dày phôi: 10 – 125 mm; Chiều rộng phôi: ≤ 600 mm |
Độ chính xác gia công kém, hay hỏng hóc |
| 2 |
Máy rong cạnh (ripsaw) |
Dày: ≤ 120 mm; Rộng: ≤ 700 mm; Dài: ≥ 200 mm |
Hoạt động bình thường |
| 3 |
Máy phay mộng ngón (finger) |
Phay mộng ngón và cắt đầu thanh gỗ ghép dọc |
Thường xuyên trục trặc cơ cấu |
| 4 |
Máy ghép dọc |
Cắt một đầu, bôi keo, ép thủy lực tạo phôi dài |
Hoạt động định kỳ theo ca |
| 5 |
Cảo quay ghép ngang |
Dài ván: ≤ 4,5 m; Rộng: 1,2 m; Dày: 150 mm; Chu kỳ quay: 60 – 120 phút |
Hệ thống tự động hỏng, phải xiết ốc vam tay |
| 6 |
Máy cưa lọng |
Xẻ dọc, lượn cong chi tiết; Dài: ≤ 1,5 m; Rộng: ≤ 0,6 m; Dày: ≤ 0,1 m |
Điều khiển bằng tay |
| 7 |
Máy cắt hai đầu |
Cắt ngang, cắt chéo hai đầu; Dài: ≤ 1,8 m; Rộng: ≤ 1,1 m; Dày: ≤ 0,1 m |
Kẹp khí nén, đẩy bàn cắt |
| 8 |
Máy cưa cắt ngang đĩa kéo |
Đường kính đĩa cưa: 355 mm; Phôi rộng: ≤ 720 mm; Dày: ≤ 120 mm |
Kéo cưa bằng tay |
| 9 |
Máy cưa cắt ngang bàn đẩy |
Cắt ngang chi tiết theo cữ chặn |
Đẩy bàn thao tác |
| 10 |
Máy bào cuốn một mặt |
Chiều dài phôi: ≥ 0,2 mm (m); Rộng: ≤ 1 m; Dày: 5 – 100 mm |
Băng tải cuốn tự động |
| 11 |
Máy bào lõm mặt ghế |
Bào cung lõm mặt ngồi ghế tự nhiên |
Cơ cấu tự động hỏng, ấn đảo chiều tay |
| 12 |
Máy tupi hai trục |
Bo góc, bo cạnh, vát cạnh; Chiều cao dao phay: 10 – 100 mm |
Định hình biên dạng |
| 13 |
Máy phay chép hình hai trục |
Chuyên phay tạo hình chân ghế theo dưỡng |
Đẩy phôi qua dưỡng chép |
| 14 |
Máy khoan trục đứng 1 mũi |
Đường kính mũi: 3 – 50 mm; Chiều sâu khoan tối đa: 0,1 m |
Dùng tay kéo đòn khoan |
| 15 |
Máy khoan trục đứng 2 mũi |
Khoan 2 lỗ đồng thời; Khoảng cách 2 mũi: 18 – 90 mm |
Khoan chốt mộng |
| 16 |
Máy cấy ốc |
Cấy ốc kim loại liên kết vào chi tiết gỗ |
Đẩy bàn phôi vào trục cấy |
| 17 |
Máy khoan trục ngang 2 mũi |
Khoan mộng ngang; Khoảng cách 2 mộng: 50 – 1100 mm |
Đạp chân điều khiển tiến bàn |
| 18 |
Dàn khoan đứng |
Khoan cụm lỗ liên kết hàng loạt |
Chạy tự động hoặc ấn tay |
| 19 |
Máy phay mộng oval dương 2 bàn |
Phay mộng tròn, oval vuông góc và nghiêng; Đường kính: ≤ 100 mm |
Tự động hóa chu kỳ phay |
| 20 |
Máy phay mộng oval âm 2 đầu |
Đường kính mộng: 8 – 20 mm; Chiều sâu mộng: 8 – 100 mm |
Bàn dịch chuyển tự động |
| 21 |
Máy phay mộng oval âm nhiều đầu |
Chuyên phay cụm mộng chân ghế sau |
Máy mới nhập, hoạt động tốt |
| 22 |
Máy tupi chép hình |
Phay biên dạng cong có kẹp thủy lực và bàn xoay |
Tự động quay bàn gia công |
| 23 |
Máy chà nhám thùng |
Chà phẳng bề mặt chi tiết; Rộng phôi: ≤ 900 mm; Dày: ≤ 150 mm |
Băng tải cuốn, hay gặp sự cố |
| 24 |
Máy chà nhám băng nằm |
Bề rộng băng nhám: 150 mm; Khoảng cách 2 trục: 1500 mm |
Tỳ bàn chà thủ công |
| 25 |
Máy chà nhám băng đứng |
Bề rộng băng nhám: 150 mm; Khoảng cách 2 trục: 1200 mm |
Chà nhám cạnh đứng |
| 26 |
Máy chà nhám ống |
Bề rộng băng: 150 mm; Đường kính quả rulo ống nhám: 100 mm |
Bo cạnh và chà góc lượn |
| 27 |
Máy chà nhám chi tiết cong 2 trục |
Chà chi tiết uốn cong; Chiều cao phôi: ≤ 150 mm; Dày: ≤ 100 mm |
Rulo cuốn phôi tự động |
| 28 |
Máy chà nhám bo cạnh |
Bo 4 cạnh chi tiết thẳng; Tiết diện vuông lớn nhất: 100 mm |
Máy mới, độ chính xác cao |
Về mặt bằng nhà xưởng, Phân xưởng 1 được bố trí gồm 8 khu vực chức năng: Kho nguyên liệu; Khu sơ chế và tinh chế; Khu sửa hàng lỗi; Khu lắp ráp trước sơn; Khu sơn lót; Khu sơn; Khu lắp ráp sau sơn và đóng gói; Khu bảo quản kho thành phẩm.
3. Khảo sát phần mềm công nghệ (Quy trình sản xuất ghế caro nệm cao)
Sản phẩm khảo sát bao gồm 17 chi tiết cấu thành:
- Chân dài (2 chi tiết)
- Chân ngắn (2 chi tiết)
- Vai tựa trên ván ép bán kính R500 (1 chi tiết)
- Nan tựa ván ép bán kính R500 (2 chi tiết)
- Nan tựa đứng ván ép thẳng (2 chi tiết)
- Kiềng hậu (1 chi tiết)
- Diềm hông ván ép (1 chi tiết)
- Diềm trước ván ép (1 chi tiết)
- Diềm sau ván ép (1 chi tiết)
- Ke trước (2 chi tiết)
- Ke sau (2 chi tiết)
- Nan tựa bọc nệm dài (2 chi tiết)
- Nan tựa bọc nệm ngắn (2 chi tiết)
- Giằng bên (2 chi tiết)
- Giằng trước (1 chi tiết)
- Giằng sau (1 chi tiết)
- Mặt ghế nệm (1 chi tiết)
Khóa luận mô tả quy trình công nghệ chi tiết cho từng bộ phận. Ví dụ: Chi tiết chân dài phải trải qua các bước: Bào 2 mặt → Ghép ngang → Bào cuốn → Vạch mực → Cưa lọng → Chà nhám thùng (chà phá) → Rong cạnh (ripsaw) → Cắt 2 đầu → Khoan đứng 2 mũi → Cấy ốc → Phay mộng oval âm nhiều đầu → Phay chép hình 2 trục → Chà nhám chi tiết cong 2 trục tự động → Chà nhám thùng → Chà nhám ống → Chà nhám chi tiết cong 2 trục tự động → Lắp ráp → Sơn → Đóng gói. Chi tiết mặt ghế nệm và công đoạn bọc nệm cụm nan tựa được thuê gia công bên ngoài.
4. Đánh giá hiện trạng công nghệ sản xuất
- Về phần cứng: Thiết bị chủ yếu là máy mua lại đã qua sử dụng, đưa vào vận hành từ năm 2004 nên đã xuống cấp. Các máy thường xuyên hỏng hóc gồm máy bào hai mặt, máy chà nhám thùng, máy phay mộng ngón. Một số máy bị tê liệt hệ thống tự động: cảo quay ghép ngang hỏng tự động phải siết ốc bằng tay; máy bào lõm mặt ghế hỏng đảo chiều tự động phải điều khiển thủ công. Bố trí máy móc trong xưởng chắp vá, các máy nhập về sau đặt vào khoảng trống ngẫu nhiên, không thành luồng liên tục (không tạo thành đường thẳng hay đường vòng hợp lý), lối đi bị chiếm dụng, phôi liệu chất đống gây cản trở vận chuyển. Thao tác vận hành tương đối đơn giản nhưng che chắn an toàn lao động chưa đạt yêu cầu.
- Về phần mềm: Đường đi công nghệ bị kéo dài và đi đường vòng do thiết bị thiếu chính xác, buộc các chi tiết phải quay lại tổ chà nhám nhiều lần để chà phá và chà tinh. Trình tự công nghệ tại một số chi tiết bất hợp lý nghiêm trọng: các chi tiết vai tựa ván ép R500, nan tựa R500 và nan tựa đứng ván ép thẳng bị đưa đi chà nhám phá trước khi cắt hai đầu. Việc này khiến phôi dài hơn, làm tăng diện tích và thời gian gia công chà nhám, đồng thời làm tăng trọng lượng chuyên chở trên palet khi công nhân vận chuyển bằng kích nâng tay, kéo dài thời gian chu kỳ sản xuất toàn bộ sản phẩm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã phản ánh bằng các dữ liệu khảo sát thực tế những kết quả then chốt:
- Thống kê và lập danh mục kỹ thuật hoàn chỉnh cho 28 loại máy móc thiết bị đang vận hành tại Phân xưởng 1 của Công ty TNHH Hòa Phát, kèm kích thước phôi giới hạn và tình trạng cơ điện.
- Xác lập được bảng danh mục 17 chi tiết cấu thành sản phẩm ghế caro nệm cao và xây dựng sơ đồ chuỗi công nghệ chi tiết từ khâu tiếp nhận phôi thô đến khâu hoàn thiện đóng gói cho từng chi tiết.
- Nhận diện các điểm nghẽn kỹ thuật và lãng phí vận hành:
- Hiện tượng dùng máy sai công năng: sử dụng máy cưa đĩa lắp lưỡi phay để chạy chỉ và vát đầu chi tiết chân ngắn do thiếu máy chuyên dụng.
- Hư hỏng cơ cấu tự động hóa trên máy cảo quay ghép ngang và máy bào lõm mặt ghế.
- Trình tự gia công bất hợp lý: chà nhám phá trước khi cắt hai đầu tại các chi tiết vai tựa và nan tựa, làm gia tăng thời gian và sức lao động vận chuyển nội bộ bằng kích nâng tay.
- Bố trí mặt bằng thiếu quy hoạch: các máy thuộc hai công đoạn liền kề đặt cách xa nhau, lối đi bị phôi liệu chiếm dụng.
- Đề xuất các nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện phần cứng: Sửa chữa, phục hồi các hệ thống điều khiển tự động của cảo quay và máy bào lõm; lắp đặt bổ sung cơ cấu che chắn an toàn cho các cụm dao cắt; sắp xếp lại mặt bằng phân xưởng theo trật tự dòng chảy công nghệ nhằm rút ngắn cự ly di chuyển phôi.
- Hoàn thiện phần mềm: Đảo lại trình tự công việc—thực hiện cắt hai đầu chi tiết trước khi đưa vào chà nhám phá nhằm giảm kích thước và trọng lượng vận chuyển; tinh giản đường đi của phôi giữa khu vực sơ chế, tinh chế và tổ chà nhám.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc áp dụng khung lý thuyết đánh giá công nghệ (tiếp cận theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000) vào thực tiễn một phân xưởng chế biến gỗ cụ thể tại Bình Dương, tạo tiền đề phương pháp luận cho các nghiên cứu đánh giá công nghệ cấp cơ sở tại Khoa Chế biến lâm sản - Trường Đại học Lâm nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có những giới hạn thực tiễn được ghi nhận:
- Phạm vi khảo sát mới dừng lại tại một phân xưởng đơn lẻ (Phân xưởng 1 tại Lồ Ồ, Dĩ An) và đánh giá quy trình trên một chủng loại sản phẩm duy nhất (ghế caro nệm cao), chưa khảo sát toàn diện các dòng sản phẩm gỗ ngoại thất và văn phòng khác của doanh nghiệp.
- Khảo sát phần cứng công nghệ mới dừng ở mức nhận định tổng quan về tính năng, công năng thao tác và tình trạng hỏng hóc bên ngoài, chưa tiến hành đo đạc chuyên sâu về cơ học máy, độ rung lắc, công suất hao phí hoặc tính toán độ mài mòn chi tiết máy.
Hướng nghiên cứu mở rộng được xác định dựa trên phạm vi nghiên cứu bao gồm: mở rộng đánh giá hiện trạng trên toàn bộ hệ thống các phân xưởng của công ty; áp dụng các mô hình tối ưu hóa mặt bằng sản xuất (layout planning) để tái thiết kế dây chuyền công nghệ đồ gỗ; nghiên cứu tính toán các chỉ tiêu định mức tiêu hao nguyên liệu và tỷ lệ thu hồi gỗ thành phẩm.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu học thuật có giá trị ứng dụng cụ thể:
- Đối với sinh viên và học viên chuyên ngành Chế biến lâm sản, Công nghệ chế biến gỗ và Kỹ thuật công nghiệp: Khóa luận cung cấp tài liệu mô tả trực quan về nguyên lý vận hành, thông số gia công giới hạn của 28 chủng loại máy gia công gỗ tự nhiên và cấu trúc phân tích quy trình công nghệ chi tiết của một sản phẩm mộc định hình.
- Đối với cán bộ kỹ thuật và quản lý xưởng sản xuất gỗ: Khóa luận cung cấp phương pháp nhận diện các bất hợp lý trong quy trình thao tác (như lỗi chà nhám trước khi cắt đầu phôi) và minh chứng về tác hại của việc bố trí mặt bằng chắp vá đối với năng suất lao động và chi phí nội vận chuyển.
Câu hỏi thường gặp
1. Công ty TNHH Hòa Phát sử dụng những chủng loại gỗ nguyên liệu chính nào trong sản xuất?
Theo văn bản, công ty chuyên sản xuất các sản phẩm đồ gỗ từ các nguồn gỗ rừng trồng trong nước, chủ yếu gồm bốn loại gỗ: cao su, bạch đàn, thông và tràm.
2. Sản phẩm ghế caro nệm cao gồm bao nhiêu chi tiết và những công đoạn nào phải thuê gia công ngoài?
Sản phẩm gồm 17 loại chi tiết. Trong đó, chi tiết mặt ghế nệm được đặt hàng hoàn chỉnh từ công ty khác chuyển về lắp ráp; công đoạn bọc nệm cho khung nan tựa (nan tựa bọc nệm dài và ngắn) cũng được công ty chuyển ra cơ sở gia công bên ngoài thực hiện sau khi đóng khung.
3. Vì sao các chi tiết gỗ tại phân xưởng thường phải trải qua công đoạn chà nhám phá ngay sau khi bào?
Do đa số máy móc được mua lại từ năm 2004 đã cũ, máy bào hai mặt không đảm bảo độ chính xác gia công và độ nhẵn bề mặt theo yêu cầu kỹ thuật của đơn hàng, nên phôi sau khi bào bắt buộc phải đưa qua máy chà nhám để chà phá lấy độ phẳng trước khi chuyển sang các khâu tinh chế tiếp theo.
4. Những thiết bị nào tại phân xưởng bị hư hỏng hệ thống tự động hóa trong thời gian khảo sát?
Văn bản ghi nhận hai thiết bị hỏng cơ cấu tự động: cảo quay ghép ngang bị hỏng hệ thống tự động (công nhân phải dùng máy vặn vít xiết ốc vam bằng tay) và máy bào lõm mặt ghế bị hỏng hệ thống bào tự động (công nhân phải ấn công tắc điều khiển đảo chiều từ sau ra trước và từ trước ra sau thủ công).
5. Bất cập chính trong trình tự gia công chi tiết vai tựa trên ván ép R500 là gì?
Phôi vai tựa bị đưa vào máy chà nhám phá trước khi qua máy cắt hai đầu. Do chưa cắt đầu, chiều dài phôi dài hơn và khối lượng palet nặng hơn, làm kéo dài thời gian máy chà nhám và gây tốn sức khi công nhân vận chuyển bằng kích nâng tay giữa các công đoạn.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Hoàng Huỳnh Ngư đã phản ánh bức tranh hiện trạng công nghệ sản xuất đồ gỗ tại Phân xưởng 1 của Công ty TNHH Hòa Phát trong giai đoạn 2012. Công trình làm rõ danh mục 28 thiết bị máy móc, cấu trúc 17 chi tiết của sản phẩm ghế caro nệm cao, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật về độ suy giảm tính năng thiết bị, sự đứt gãy luồng lu chuyển phôi và bất hợp lý trong trình tự gia công. Các đề xuất hoàn thiện phần cứng và phần mềm công nghệ được xây dựng sát với điều kiện thực tế, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác tổ chức sản xuất ngành chế biến lâm sản.