Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở thực hiện đề tài 1. Cơ sở khoa học của đề tài Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống về các chính sách pháp luật đất đai, đặc biệt là chính sách chuyển quyền sử dụng đất, tìm hiểu, đánh giá sự hiểu biết của cán bộ quản lý và người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và đề xuất giải pháp thực hiện. Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần quản lý nhà nước và các giao dịch về đất đai trên địa bàn, đồng thời cũng góp phần hoàn thiện một số chính sách, thủ tục về việc thực hiện chuyển quyền sử dụng đất đối với huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; Góp phần hạn chế, giải tỏa bức xúc, khiếu kiện của nhân dân khi thực hiện các thủ tục về chuyển quyền sử dụng đất.
Việc chuyển QSDĐ là cơ sở cho việc thay đổi quan hệ pháp luật đất đai. Trong quá trình sử dụng đất đai từ trước tới nay luôn luôn có sự biến động do chuyển QSDĐ. Mặc dù, trong Luật Đất đai 1987, Nhà nước chỉ quy định một phạm vi hạn hẹp trong việc chuyển QSDĐ như chỉ quy định cho phép chuyển quyền sử dụng đối với đất nông nghiệp, còn khả năng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế các loại đất khác hầu như bị cấm đoán; nhưng thực tế các quyền này diễn ra rất sôi động và trốn tránh sự kiểm soát của Nhà nước. Đến Luật Đất đai 1993, Nhà nước đã ghi nhận sự thay đổi mối quan hệ đất đai rất toàn diện.
Nhà nước đã thừa nhận đất đai có giá trị sử dụng và coi nó là một loại hàng hoá đặc biệt, cho phép người sử dụng được quyền chuyển quyền khá rộng rãi theo quy định của pháp luật dưới các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế QSDĐ. Các quyền này được nêu tại Điều 73 Luật Đất đai 1993. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật đất đai năm 1993 còn bộc lộ nhiều điểm còn chưa phù hợp với sự đổi mới và phát triển của đất nước. Để khắc phục những tồn tại của Luật Đất đai 1993, đồng thời tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ về đất đai, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI thông qua Luật đất đai 2003.
5 Đến Luật Đất đai 2003, Nhà nước vẫn tiếp tục mở rộng quyền được chuyển QSDĐ của người sử dụng đất như Luật Đất đai 1993 nhưng cụ thể hoá hơn về các quyền chuyển quyền và bổ sung thêm việc chuyển quyền dưới hình thức cho tặng QSDĐ, góp vốn và bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ và thủ tục cũng như nhiều vấn đề khác liên quan. Như vậy, việc thực hiện các quyền năng cụ thể không chỉ đối với đất nông nghiệp mà còn đối với mọi loại đất. Nhà nước chỉ không cho phép chuyển QSDĐ trong 3 trường hợp sau: - Đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp; - Đất giao cho các tổ chức mà pháp luật quy định không được chuyển quyền sử dụng; - Đất đang có tranh chấp. Cơ sở pháp lý của đề tài Đất đai là một loại hàng hóa đặc biệt và không thể thay thế được trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế hiện nay đất đai trở thành một loại hàng hóa không thể thiếu của nền kinh tế thị trường. Các hoạt động chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp … đều được gọi chung là chuyển quyền sử dụng đất. Mà thực chất các hoạt động kinh tế của nước ta diễn ra đều liên quan đến đất đai, người dân tham gia sự luân chuyển đất đai thông qua các hình thức chuyển quyền sử dụng đất từ người này sang người khác, hay nói cách khác đất đai được chuyển thông qua việc chuyển quyền sử dụng đất từ chủ sử dụng đất này sang chủ sử dụng đất khác. Trước đây, khi Luật Đất đai chưa được ban hành thì các hoạt động chuyển quyền sử dụng đất diễn ra một cách tự do, người dân mua bán đất đai với nhau một cách thoải mái không cần thông qua nhà nước, cho nên việc quản lý thống kê và cập nhật thông tin về đất đai rất phức tạp, nhưng đất đai vẫn chưa được thừa nhận trong thị trường.
Sau khi Hiến pháp ra đời vào năm 1992 lúc đó đất đai chính thức được công nhận là một loại hàng hóa đặc biệt, được xác định giá trị và được tham gia vào thị trường nhà đất. Việc đất đai được công nhận là một loại hàng hóa và được tham 6 gia vào thị trường đã có tác dụng rất lớn tạo ra một bước tiến mới trong việc phát triển của kinh tế - xã hội và công tác quản lý nhà nước về đất đai. Luật Đất đai 1993 được ban hành vào ngày 15/10/1993 (Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1988) đã được chú ý tới từng thửa đất, từng chủ sử dụng. Như vậy việc quản lý đất đai gặp nhiều thuận lợi hơn.
Trong Luật Đất đai 1993 quy định 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai và thừa nhận các quyền chuyển quyền sử dụng đất, đồng thời ban hành rất nhiều các văn bản hướng dẫn thực hiện. Do vậy, công tác quản lý nhà nước về đất đai trở nên đơn giản hơn, đồng bộ hơn, không gây khó khăn cho cán bộ quản lý nói chung trong công tác quản lý đất đai, từ đó Nhà nước có thể quản lý được đầy đủ những biến động về đất đai trong cả nước và trong từng khu vực, thu được ngân sách cho Nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội. Trong Luật Đất đai 1993 thì mới chỉ có 5 hình thức chuyển quyền sử dụng đất gồm: Chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, được quy định cụ thể trong các điều 73, 74, 75, 76, 77 và điều 78. Tuy nhiên, do mới được chính thức thừa nhận nên các hình thức chuyển quyền sử dụng đất còn đơn giản, chưa thực sự nắm hết được các hoạt động, vì vậy trong thực tế vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình quản lý (Luật Đất đai 1993) [5].
Để giải quyết các vướng mắc trong các Luật Đất đai ban hành cho phù hợp với thực tế phát triển của xã hội, Luật Đất đai 2003 được ban hành là một bước tiến mới tạo ra hướng đi cho quá trình phát triển và công tác quản lý nói chung. Các hình thức chuyển quyền sử dụng đất đai đã đa dạng hơn, có thêm 3 hình thức mới bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; đồng thời là các quy định cụ thể chặt chẽ và chi tiết hơn về việc hướng dẫn các hình thức trên được quy định trong Luật đất đai tại các điều 106, 110, 113, 115, 119 và trình tự, thủ tục quy định tại các điều 126, 127, 128, 129, 130 và điều 131 (Luật Đất đai 2003) [6]. Một số các văn bản được Nhà nước ban hành trong vài năm gần đây liên quan tới công tác chuyển quyền sử dụng đất: 7 - Luật Đất đai 2003 ban hành ngày 26/11/2003 được Quốc hội thông qua gồm 8 hình thức chuyển quyền sử dụng đất: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. - Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của chính phủ về thu tiền sử dụng đất [4]. - Thông tư liên tịch số 30/2005/TTLT/BTC-BTNMT ngày 18/04/2005 hướng dẫn việc luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính [1]. - Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/06/2005 của Bộ tư pháp và Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. - Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/06/2006 về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP- BTNMT ngày 16 tháng 06 năm 2005 của Bộ tư pháp và Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất [2].
- Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/06/2006 của Bộ tư pháp và Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất. - Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/07/2006 của Bộ tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT/BTP-BXD-BTNMT-NHNN ngày 21/05/2007 của Bộ tư pháp, Bộ xây dựng, Bộ tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở. - Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ về việc ban hành quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
8 - Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 của Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính. - Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ tài chính và Bộ tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. - Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ tài nguyên và Môi trường Quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.