Đặt vấn đề Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người, là nguồn cung cấp năng lượng, chất xơ cần cho quá trình tiêu hoá, vitamin và khoáng chất cho cơ thể. Bên cạnh đó, rau còn là nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm như: bánh, mứt, nước giải khát, hương liệu công nghệ đồ hộp, dược liệu,. mang lại giá trị kinh tế. Dưa chuột (Cucumis sativus L.) là cây rau quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp và được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.
Với thời gian sinh trưởng ngắn nên dưa chuột có thể trồng được nhiều vụ trong năm. Hơn nữa, do có tiềm năng cho năng suất cao (trung bình đạt 40-60 tấn/ha) nên đây là một trong những loại rau chủ lực trong cơ cấu thâm canh tăng vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho người lao động. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) năm 2018, diện tích gieo trồng dưa chuột trên thế giới lên đến 1.518 ha và sản lượng đạt 75.219440 tấn, trong đó Trung Quốc, Iran, Mexico, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ là những nước dẫn đầu về diện tích gieo trồng và sản lượng. Trong 100g quả dưa chuột tươi chứa 95%, cung cấp 16 calo, 0,8g protein, 0,3g glucid, 23 mg calcium, 27 mg phospho và các vitamin A, C, B1, B2, PP … Do đó dưa chuột được ưa chuộng sử dụng rộng rãi trong các bữa ăn hằng ngày dưới nhiều hình thức như ăn tươi, xào, trộn salat… Bên cạnh dùng tươi, dưa chuột là nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến như sản xuất dưa chuột đóng hộp, dầm giấm… được ưa chuộng trên khắp thế giới.
Nhu cầu tiêu dùng hiện nay đối với các sản phẩm rau quả trong đó có dưa chuột không chỉ có năng suất cao mà còn chất lượng tốt. Vì vậy, nhiều cơ sở hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu giống cây trồng đã và đang chọn tạo ra bộ giống ngày càng chất lượng và phong phú. Tuy nhiên, phần lớn các 2 giống chọn tạo và khảo nghiệm trong điều kiện nhà lưới mà chưa đánh giá trong điều kiện canh tác thực tế của địa phương. Hơn nữa, huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra mưa lũ, hạn hán, đất đai nghèo dinh dưỡng,….
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất của địa phương, nhằm chọn lọc được bộ giống dưa chuột tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá một số chỉ tiêu hóa sinh, sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số giống dưa chuột lai F1 triển vọng trồng tại xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định”. Mục đích và yêu cầu của đề tài - Đánh giá so sánh được một số đặc điểm hóa sinh, khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của 8 giống dưa chuột lai F1 triển vọng. - Đánh giá được khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của nhiều giống dưa chuột lai F1 triển vọng trồng trong vụ Đông Xuân tại xã Phước Hiệp, Tuy Phước, Bình Định. - Đề xuất được một số giống dưa chuột tốt, có năng suất cao chất lượng tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương nhằm mang lại năng suất, hiệu quả kinh tế cao.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thêm cơ sở dữ liệu về khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của 8 giống dưa chuột lai F1 triển vọng trên thị trường. Ý nghĩa thực tiễn Qua kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ xác định được các giống dưa chuột năng suất cao, chất lượng tốt bổ sung vào cơ cấu giống dưa chuột ở Bình Định nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Nguồn gốc, phân bố và phân loại cây dưa chuột 1. Nguồn gốc và phân bố Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều nước. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào đề cập về nguồn gốc của cây dưa chuột và còn nhiều ý kiến khác nhau về xuất xứ của loài cây này. Nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng cây dưa chuột có nguồn gốc từ Tây Ấn Độ, nơi tồn tại các loài họ hàng hoang dại với số lượng nhiễm sắc thể 2n = 14.
Loài hoang dại (Cucumis hardiwickii Royle) là loài dưa chuột quả nhỏ, có vị đắng, có gai quả cứng và thưa được tìm thấy mọc hoang dại ở dưới chân núi Hymalaya. Từ Ấn Độ, dưa chuột đã được đưa đến Hy Lạp và Ý và sau đó là Trung Quốc (De Candole A.P, 1984; Staub et al. Cũng có ý kiến cho rằng dưa chuột có nguồn gốc ở Nam Á và được trồng tại đây khoảng 3.000 năm, sau đó đưa đến một số vùng phía Tây châu Á, Bắc Phi và Nam Âu. Dưa chuột được trồng ở Trung Quốc khoảng 100 năm trước công nguyên, ở Pháp và Tây Ban Nha đã phát hiện ra cây dưa chuột của địa phương trong thời gian thực dân thống trị lâu dài ở thế kỷ XVI (Tạ Thu Cúc, 2000) [3].
Nhà thực vật học người Nga Vavilov (1926) lại cho rằng khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dưa chuột vì ở đây còn tồn tại các loài dưa chuột hoang dại. Ông cũng khẳng định, Trung Quốc là trung tâm khởi nguyên thứ hai của cây dưa chuột do có giống dưa chuột Trung Quốc với hàng loạt tính trạng như quả dài, hình thành quả không cần thụ phấn (parthenocarpy), quả không chứa chất gây đắng cucurbitacin, gai quả màu trắng… [4]. 4 Hiện nay, cây dưa chuột hầu như được trồng khắp mọi nơi trên thế giới từ vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi đến tận 630 vĩ Bắc. Ở các vùng ôn đới, ở các vùng cực Bắc Châu Âu, dưa chuột luôn là một trong những cây trồng chính trong nhà kính.
Hiện chưa có nghiên cứu nào đề cập đến thời gian xuất hiện dưa chuột ở nước ta. Tài liệu sớm hơn cả có nhắc đến dưa chuột là sách “Nam phương thảo mộc trạng” của Kế Hàm có từ năm Thái Khang thứ 6 giới thiệu “… cây dưa leo hoa vàng, quả dài cỡ gang tay, ăn mát vào mùa hè”. Mô tả kỹ hơn cả là cuốn “Phủ biên tạp lục” (1775) Lê Quý Đôn đã ghi rõ tên dưa chuột và vùng trồng là Đàng Trong (từ Quảng Bình đến Hà Tiên) và Bắc Bộ [4]. Hiện nay, cây dưa chuột có thể trồng được ở nhiều vùng trong cả nước nhưng thích hợp nhất chủ yếu ở đồng bằng và trung du, miền núi phía Bắc.
Một số tỉnh trồng nhiều dưa chuột như: Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội, Phú Thọ, Tây Ninh, Đồng Nai, Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp. Phân loại Dưa chuột (Cucumis sativus L.) thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), chi Cucumis, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 14. Do trong quá trình tồn tại và phát triển, từ một dạng ban đầu, dưới tác động của điều kiện sinh thái khác nhau và các đột biến tự nhiên, dưa chuột đã phân hóa thành nhiều kiểu sinh học (biotype). Việc phân loại dưa chuột theo đặc tính sinh thái và di truyền học giúp cho công tác nghiên cứu giống sử dụng đúng đắn và dễ dàng các đối tượng nghiên cứu.
Các nhà phân loại đã cố gắng nhiều trong lĩnh vực này, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một bảng phân loại thống nhất cho dưa chuột [10]. Theo bảng phân loại của Gabaev X (1932) các loài C. được chia thành 3 loài phụ sau: 5 Loài phụ Đông Á: ssp. rigidus Gab Loài phụ Tây Á: ssp.
Dưa chuột hoang dại: ssp. Bảng phân loại này về cơ bản là hợp lý, song khó sử dụng. Trên cơ sở các nghiên cứu sự tiến hoá sinh thái loài, Filov A. sativus thành 7 loại phụ.
Trong số này ssp. Là dưa chuột hoang dại đứng riêng, còn lại 6 loại phụ khác thuộc dạng cây trồng. europaeo - americanus Fil.- loại phụ Âu Mỹ, có diện phổ biến rộng nhất. occidentali - asiaticus Fil.
- Tây Á, phổ biến ở Trung và Tiểu Á: Iran, Apganixtan, Azecbaigian. - Trung Quốc, được trồng nhiều trong nhà kính ở Châu Âu, dạng quả ngắn thụ phấn nhờ côn trùng và quả dài không qua thụ phấn. indico - japonicus Fil.: Ấn Độ - Nhật Bản, các giống dưa chuột Việt Nam thuộc nhóm này.- dưa chuột lưỡng tính. Nhà di truyền học Ba Lan Kubicki (1969) đã chia C.
sativus thành 3 thứ: var. hermafroitus (dưa chuột lưỡng tính) và var. Bảng phân loại này mặc dù chỉ dựa trên quan điểm hình thái thực vật nhưng tương đối thuận lợi khi sử dụng trong công tác nghiên cứu giống. Hiện nay, ở Việt Nam còn có hai loài dưa chuột hoang dại mới được phát hiện, trong đó C.
de Wilde & Duyfes là loài đặc hữu và C. hystrix Chakrav phân bố rộng rãi nhưng không phổ biến [44]. Đặc điểm thực vật học của cây dưa chuột Rễ: cây dưa chuột có rễ phát triển yếu, trong đất có thành phần cơ giới trung bình chỉ dài 10 -15 cm. Hệ rễ chiếm 1,5% toàn bộ trọng lượng cây, với hệ thống rễ phân bố trên bề mặt rộng chừng 60-90 cm [17].
Ở nhóm dưa chuột có thời gian sinh trưởng dài, bộ rễ cùng các cơ quan trên bề mặt đất phát triển mạnh hơn. Tuy nhiên, ở các giống lai F1 tất cả các pha sinh trưởng bộ rễ phát triển mạnh và có khối lượng lớn hơn so với các cặp bố mẹ [17]. Do vậy, mức độ phát triển bộ rễ ở giai đoạn đầu là một trong những tính trạng có tương quan chặt chẽ tới năng suất cây sau này. Thân: cây dưa chuột là cây một năm có thân thảo mềm, thân leo hay bò, có phủ lớp lông dày, có gốc cạnh, dạng leo dài từ 2-3m [32].
Do thuộc loại thân leo nên cần phải làm giàn để nâng đỡ thân, lá, quả giúp làm tăng năng suất và chất lượng quả [30]. Trên thân chính hình thành nhánh cấp 1 và cấp 2, có thể mang trái nếu cây phát triển tốt. Chiều cao cây thay đổi rất lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt. Lá: Lá là cơ quan dinh dưỡng với chức năng chính là quang hợp, ngoài ra lá còn có chức năng thoát hơi nước và trao đổi không khí.
Cây có bộ lá phát triển tốt và đầy đủ sẽ có khả năng quang hợp cao do đó khả năng tích lũy vật chất nhiều tạo tiền đề cho năng suất cây trồng cao [34]. Lá dưa chuột có hai dạng là lá mầm và lá thật.