Đặt vấn đề Việt Nam đang chuyển mình hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, do đó quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng phát triển và kết quả là kéo theo đô thị hóa. Dân số tăng nhanh nên các khu dân cư tập trung dần được quy hoạch và hình thành. Nước thải sinh hoạt là sản phẩm trong quá trình sinh hoạt của con người. Nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng số nước thải ở các thành phố, là một nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm nước và vấn đề này có xu hướng càng ngày càng xấu đi.[15] Ô nhiễm nguồn nước do tác động của nước thải sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc hiện nay.
Bên cạnh đó vấn đề xử lý nước thải trước khi thải ra sông rạch chưa được áp dụng rộng rãi và hiệu quả. Hậu quả là nguồn nước mặt bị ô nhiễm và nguồn nước ngầm cũng dần ô nhiễm theo, tình trạng ngập nước trên các tuyến đường, nước thải chảy tràn lan qua hệ thống sông ngòi, kênh rạch…ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường và cuộc sống của chúng ta. Hiện nay, việc quản lý nước thải trong đó có nước thải sinh hoạt là một vấn đề cấp thiết của các nhà quản lý môi trường trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy, cần có hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt nhằm cải thiện môi trường và phát triển theo hướng bền vững.
Thành phố Bắc Giang là một trong những thành phố đang phát triển trong cả nước, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả tỉnh, với tốc độ tăng trưởng tương đối cao về nhiều mặt như: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ cùng với tốc độ tăng dân số nhanh ngày càng làm cho môi trường ô nhiễm càng trầm trọng hơn. Thành phố Bắc Giang có hệ thống thoát nước tương đối hoàn chỉnh cho cả nước mưa và nước sinh hoạt, chiếm 35,2% so với chiều dài đường phố. Một số xã có đường ống thoát nước mưa chung với nước thải, còn lại chủ yếu là thoát nước tự nhiên. Nước thải sinh hoạt của Thành phố được thu gom và đưa về nhà máy xử lý 1 thuộc địa bàn xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
n 2 Với mong muốn môi trường sống ngày càng được nâng cao, vấn đề quản lý nước thải sinh hoạt ngày càng chặt chẽ hơn phù hợp với sự phát triển tất yếu của xã hội và cải thiện được nguồn nước đang bị suy thoái trên địa bàn Thành phố Bắc Giang. Cùng với sự phân công của ban chủ nhiệm Khoa Môi trường dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lương Văn Hinh nên đề tài: “Đánh giá chất lượng và hiệu quả xử lý nước thải sinh hoạt của Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” được hình thành. Mục đích nghiên cứu Đánh giá ô nhiễm nước thải sinh hoạt tại Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội Tp Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Tìm hiểu chung về nước thải sinh hoạt, công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt. - Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu mức độ xử lý ô nhiễm hữu cơ trong nước thải sinh hoạt của Tp.Bắc Giang tại trạm xử lý nước thải mà cụ thể là khảo sát một số chỉ tiêu pH, SS, COD, BOD5, PO43-, NO3- làm cơ sở để điều chỉnh và vận hành hệ thống xử lý theo cách tốt nhất. - Đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Yêu cầu của đề tài - Thông tin và số liệu thu được phải chính xác, trung thực, khách quan.
- Đánh giá đầy đủ chính xác về chất lượng nước thải sinh hoạt tại Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. - Các kết quả cần phải tổng hợp và phân tích. - Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện khu vực. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã học vào rèn luyện kỹ năng điều tra tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. n 3 - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác bảo vệ môi trường. - Đề tài góp phần vào việc tìm hiểu quy trình xử lý nước thải sinh hoạt. Từ đó góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, cải thiện tài nguyên nước ngày càng trong sạch hơn.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài sẽ được nghiên cứu và bổ sung để phát triển cho vấn đề thu gom và xử lý nước để chất lượng nước thải xả ra môi trường đạt hiệu quả cao nhất. - Hạn chế việc xả thải bừa bãi làm suy thoái và ô nhiễm tài nguyên nước. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam ban hành ngày 29/12/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2012, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013.
- Nghị định 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải. - Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. - Quyết định số 34/2005/QĐ- TTg ngày 22/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41/NQ- TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. - Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/08/2006 của chính phủ về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về Môi trường.
- Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN 14:2008/BTNMT, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt. Cơ sở khoa học 2. Nước và vai trò của nước Nhờ có nước, sự sống trên trái đất được hình thành, tồn tại và phát triển từ xa xưa cho đến ngày nay. Nước chính là nguồn gốc của sự sống.
Các quá trình sống được thực hiện rất phức tạp, và chúng chỉ có thể diễn ra trong điều kiện có sự tham gia của nước. Nước là chất lỏng trong suốt, không màu, không mùi, không vị, nước có tính chất vật lý và hóa học khác hẳn so với các chất lỏng khác. Nước là loại chất duy nhất nở ra khi đóng băng, băng lại nổi trên mặt nước, điều này dẫn đến hiện tượng phân tầng nhiệt trong các hồ và biển. n 5 Về mặt hóa học, nước là hợp chất có khả năng tham gia vào nhiều loại phản ứng hòa tan các chất nhiều hơn bất kỳ một dung môi nào khác.
Nước cũng là tác nhân tham gia vào nhiều laoij phản ứng hóa học. Nước hòa tan khí oxy nhiều hơn bất kỳ chất lỏng nào ( 1 lít nước ở 200C tan được 31 ml khí oxy ). Vì thế, sự sống xuất hiện trong ao hồ, sông, ngòi, biển cả và đáy đại dương [1]. Nước có mặt trong các cơ thể sống và mang dinh dưỡng đến tất cả các tế bào sống.
Có thể nói, nước tham gia vào việc vẩn chuyển tất cả các chất hòa tan đi khắp sinh quyển. Chu trình vận động của nước trong tự nhiên diễn ra theo một vòng tuần hoàn. Hơi nước bốc lên từ đại dương được không khí mang vào đất liền, hòa cùng với hơi nước bốc lên từ ao hồ, sông suối, và sự thoát hơi nước từ thực vật, động vật đã ngưng tụ tạo thành mưa hoặc tuyết dơi xuống mặt đất, lượng nước còn lại chủ yếu theo các nguồn nước mặt hoặc nước ngầm chảy ra biển và đại dương. Nước là nguồn nguyên liệu đặc biệt, không chất nào có thể thay thế được.
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Tổng trữ lượng nước trên trái đất là rất lớn ( 1.386 triệu km3 ), nhưng nước ngọt và nước sạch dùng cho con người thì có hạn vì sự tái tạo lại dường như phân bố không đều và không kịp cho nhu cầu sử dụng. Nước ngọt chiểm khoảng 2,7 % tổng trữ nước trên trái đất, trong đó nước ở dạng băng là 77,22 %, nước ngầm 22,42 %, hồ đầm 0,35 %, sông suối 0,01 % lượng nước ngọt. Nguồn nước ngầm thường có xu hướng giảm do khai thác nhiều mà không được bổ sung kịp thời [18].
Con người phải dùng nước cho sinh hoạt và sản xuất. Trong đời sống động vật có thể chết nếu bị mất 10 đến 20 % lượng nước trong cơ thể. Trung bình mỗi ngày, một người cần đưa vào cơ thể ( qua ăn, uống nước ) từ 2,5 – 4 lít nước, còn nước dùng cho sinh hoạt của con người thì lớn hơn nhiều. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu xử dụng nước cho sinh hoạt ngày càng tăng lên.
Nhu cầu nước dùng để sản xuất một tấn bún hay bánh phở trung bình cần 10 m3 nước, sản xuất một tấn thép cẩn khoảng 25 m3, còn sản xuất một tấn giấy cần tới 100 m3 nước [18]. n 6 Người ta coi rằng 80 % nước sạch tiêu thụ sẽ biến thành nước thải, vì thế có thể lượng nước thải mà con người xả ra môi trường là rất lớn, và nó đòi hỏi phải có biện pháp thiết thực để giải quyết. Nước thải và phân loại nước thải Theo TCVN 1980 – 1995 và ISO 6107/1 – 1980: Nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã được sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp với quá trình đó. Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng, đó là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý. - Nước thải sinh hoạt: Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác. - Nước thải công nghiệp (hay còn gọi nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu. - Nước thải thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí.
- Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống.