Đặt vấn đề Cymbopogon martinii (Roxb.) thuộc họ Rusae và được tìm thấy bản địa ở Nam Ấn Độ (Vinutha et al. Nó tồn tại ở hai dạng đáng chú ý là “motia và sofia”, mang lại chất lượng dầu tốt hơn với tỷ lệ phần trăm hàm lượng geraniol cao (Bor 1953). Dạng “motia” cho dầu Palmarosa (hương hoa hồng) và dạng “sofia” cho dầu cỏ Gừng, được sử dụng thương mại cho mục đích làm nước hoa và làm thuốc (Maffei 2002). Ấn Độ là nhà sản xuất dầu lớn cùng với Guatemala, Trung Quốc, Mexico và Bangladesh.
Sả hoa hồng (Cymbopogon martinii (Roxb) Wats) còn có tên gọi khác nhau như sả Rộng, sả Ấn Độ hay Palmarosa là một trong số 184 loài thuộc chi sả Cymbopogon, họ hòa thảo Poaceae. Sả hoa hồng rất nổi tiếng với hàm lượng dầu cao, hàm lượng geraniol từ 60 - 90% (Hussain et al. 1988; Kumar et al. Dầu được ứng dụng rộng rãi trong nước hoa, mỹ phẩm, hương liệu và liệu pháp hương thơm.
Nó cũng là một chất chống côn trùng hiệu quả được sử dụng để lưu trữ ngũ cốc, thuốc tẩy giun sán đối với tuyến trùng, kháng nấm và đặc tính đuổi muỗi (Olorunnisola et al. Dầu Palmarosa sở hữu hương thơm đặc trưng giống như mùi hoa hồng và do đó được thêm vào xà phòng và mỹ phẩm (Rao et al. Sả hoa hồng được sử dụng trong công nghệ sản xuất nước hoa. Lá và hoa có chứa tinh dầu có hương vị ngọt, được sử dụng trong sản xuất graniol.
Nó cũng được chưng cất thành tinh dầu palmarosa và được sử dụng trong điều trị bằng dầu thơm vì có tác dụng làm dịu để giảm bớt các căng thăng thần kinh. Giống có hàm lượng geraniol cao (75- 95%) được sử dụng làm nguyên liệu ban đầu cho một số hóa chất thơm tổng hợp este geranyl (Soenarko 1977; Jagadishchandra 1975). Trong y dược, tinh dầu sả hoa hồng được dùng tẩm màn chống muỗi sốt sét, vừa không độc hại cho người, vừa xua đuổi ruồi muỗi và côn trùng. Y học dân tộc cổ truyền Ấn Độ coi tinh dầu sả hoa hồng là loại thuốc chữa trị bệnh đau 1 thấp khớp, đau lưng chống co giật gân và bệnh rụng tóc.
Trung tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội có lưu trữ các mẫu giống sả hoa hồng được lựa chọn. Từ năm 2007 đến nay sức sống của hạt giống giảm. Đồng thời sau một thời gian dài không được đưa ra sản xuất nên khả năng thích nghi của các mẫu giống với điệu kiện sinh thái cũng giảm, từ đó dẫn đến cây sinh trưởng kém hơn hay còn gọi là thoái hóa giống. Bên cạnh đó, hiện nay, nhu cầu dùng sả hoa hồng đang tăng, nhiều công ty đang cần phát triển nguyên liệu cho sản xuất tinh dầu.
Do đó, các mẫu giống này cần được phục tráng lại và nhân giống tiến tới khảo nghiệm công nhận giống, cung cấp nguồn giống cho sản xuất nguyên liệu sản xuất tinh dầu phục vụ nhu cầu trong nước. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát tiển và chất lượng của các dòng sả hoa hồng ( Cymbopogon martinii ( Roxb) Wats tại Thanh Trì- Hà Nội” 1.Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển và chất lượng của các dòng sả hoa hồng đã được chọn và phục tráng tại Thanh Trì- Hà Nội. Yêu cầu - Đánh giá các đặc điểm hình thái của các dòng sả hoa hồng được phục tráng.
- Đánh giá thời gian sinh trưởng của các dòng sả hoa hồng. - Đánh giá các đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng sả hoa hồng. - Đánh giá năng suất cá thể và năng suất thực thu của các dòng sả hoa hồng. - Đánh giá chất lượng tinh dầu của các dòng sả hoa hồng.
- Đánh giá được khả năng chống chịu và mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của các dòng sả hoa hồng. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Nguồn gồn Sả hoa hồng (Cymbopogon martini) lâu năm thuộc họ hòa thảo Poaceae, chi cỏ chanh Cymbopogon (Hussain et al. Nó là loại cây nhiệt đới mọc ở khu vực ấm áp và ẩm ướt, có nguồn gốc từ Ấn Độ và Đông Dương và được biết đến với nguồn cung cấp dầu dễ bay hơi. Chi Cymbopogon chứa nhiều loại cỏ cho tinh dầu thơm được sử dụng làm hương thơm, thuốc trừ sâu thảo dược, làm thuốc và làm hương liệu cho thực phẩm (Soreng & cs, 2009).
Các loại tinh dầu khác nhau, chẳng hạn như tinh dầu palmarosa, dầu sả và cỏ gừng hoặc dầu rusa, rất phổ biến trong nước hoa (Rao, 1997; Sangwan et al. Ở Ấn Độ, nó được phân bố ở các bang Kashmir, Almora, Garhwal, và Punjab, Rajasthan, Mumbai và miền Nam. Nó thường được gọi là Rohisa ở Ấn Độ và được sử dụng làm thuốc ở Ayurveda từ thời cổ đại. Một số tên thông dụng phổ biến của cây là Cỏ Phong lữ, cỏ Sofia, cỏ Hồng,.
Chi sả Cymbopogon có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới như Châu Á, Châu Phi và châu Mỹ. Trong đó loài phổ biến nhất ở Trung Quốc và vùng Đông Nam Châu Á là loài Sả ta hay Sả Tàu (Cymbopogon citratus) có nguồn gốc từ Trung Quốc và phân bố rộng rải ở các nước vùng Đông Á và Đông Nam Á. (Stapf, 1906) Cymbopogon martinii trong tiếng Việt gọi tên sả rộng, sả lá rộng, sả Ấn độ, là một loài thực vật có hoa trong họ Hòa thảo. Loài này được (Roxb.
Watson mô tả khoa học đầu tiên năm 1882. Sả hoa hồng (Cymbopogon martinii (Roxb) Wats được đưa vào trồng trọt ở Ấn Độ, Indonexia những năm đầu thế kỷ 20. Hiện nay, sả hoa hồng còn được trồng ở một số nước Châu Mỹ Latinh. Việt Nam trồng thử nghiệm sả hoa hồng ở một số vùng quanh Hà Nội, miền Trung, Đông Nam Bộ.
Năm 1982 Phạm Kim Mãn và Phạm Văn Hiển đã nhập nội giống sả hoa hồng từ Viện nghiên cứu cây thuốc và cây tinh dầu Trung ương Lucknow Ấn Độ. Hầu hết các nghiên cứu sâu về sả hoa hồng đều xuất phát từ Ấn Độ vì tinh dầu sả 3 hoa hồng có rất nhiều ứng dụng trong hương liệu, mỹ phẩm, làm thuốc và trong các lễ nghi tôn giáo tại đây. Do ưa điều kiện ẩm mát nên sả hoa hồng được trồng nhiều ở những vùng cao nguyên se lạnh, nhất là ở vùng Tuyên Quang và Yên Bái. (Phạm Kim Mãn & cs.
Sả hoa hồng được trồng để sản xuất tinh dầu với tên thương phẩm là Palmarosa oil, thành phần chính là geraniol (75%- 95%) (Phạm Thị Kim Thanh & cs.Phân loại khoa học Tên Latinh: Cymbopogon martinii Họ: Poaceae ⁄ Gramineae (Họ Cỏ) là một họ thực vật một lá mầm (lớp Liliopsida), với danh pháp khoa học là Poaceae, còn được biết dưới danh pháp khác là Gramineae. Trong họ này có khoảng 668 chi và khoảng 10. Chi Cymbopongon chứa gần 184 loài, loài phụ, giống và giống phụ, trong đó 54 loài đã được biết đến và chấp nhận trên toàn thế giới (Bertea & Maffei 2010; Saraswathi et al. Các loài Cymbopogon được biết đến với giá trị về hương thơm và các loại thương mại chủ yếu được chủ dụng bao gồm C.
motia và sofia (Palmarosa và cỏ gừng), C. Tên Cymbopogon có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, thuyền “Kymbe”- dùng để chỉ những bông hoa hình thuyền, một đặc điểm dễ thấy của cụm hoa, và bộ râu “Pogon”- dùng cho mô tả nhiều chùm hoa có mái che (Bor 1953; Bor 1960). Chi Cymbopogon Ấn Độ được phân loại theo ba bộ là Citrati, Rusae và Shoenanthi (Stapf 1906) Chi Cymbopogon có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm của châu Á, châu Phi và châu Mỹ (Kumar et al. Khoảng 45 loài đã có ở Ấn Độ.
Các Cymbopogon tạo ra dầu dễ bay hơi được gọi là cỏ thơm (Rao,1997). Các loại tinh dầu khác nhau, chẳng hạn palmarosa, dầu sả và cỏ gừng hoặc dầu rusa, rất phổ biến trong nước hoa (Rao, 1997; Sangwan et al. Các loài Cymbopogon thể 4 hiện sự biến động rộng về các đặc điểm hình thái và thành phần tinh dầu trong cùng loài hoặc khác loài (Rao, 1997; Saraswathi et al. 2016) Loài: Cymbopogon martinii (Roxb.) JF Watson (cỏ rosha) là một loài trong chi Cymbopogon (sả) có nguồn gốc từ Ấn Độ và Đông Dương, nhưng được trồng rộng rãi ở nhiều nơi để lấy dầu thơm.
Nó được biết đến nhiều nhất với tên thông thường palmarosa (sả hoa hồng) vì nó có mùi ngọt ngào và giống như hoa hồng. Các tên thông thường khác bao gồm Phong lữ Ấn Độ, rosha và cỏ rosha. martini gồm có 2 giống là C. motia - Palmarosa và C.
sofia – cỏ gừng. motia tạo ra một loại tinh dầu có hàm lượng geraniol cao (60-90%), còn được gọi là Dầu Phong lữ Đông Ấn Độ hoặc dầu Russa. Cây có lá màu xanh đậm, nổi bật gân chính giữa, hơi tròn ở gốc và tạo thành góc tù đến vuông với thân. Nó là dạng lưỡng bội (2n = 20) và dầu chứa nhiều geraniol, geranyl axetat và linalool.
sofia được gọi là cỏ Gừng cũng được trồng rộng rãi ở Ấn Độ và cho dầu có hàm lượng geraniol thấp hơn. Cây có dạng chùm dày và phát triển xum xuê hơn nhưng với các cụm hoa ngắn hơn và gốc lá cong gắn một góc nhọn so với thân cây. Nó là thể tứ bội (2n = 40). Dầu của nó được gọi là Dầu Cỏ Gừng là loại kém hơn và có giá trị thấp hơn so với dầu Palmarosa.
Dầu chứa ít geraniol và nhiều thành phần khác như rượu perillyl, carnecol, carbon, dipentene, v.Đặc điểm thực vật học Sả hoa hồng, hay còn gọi là Palmarosa, là loại cây thảo sống nhiều năm (hình 2. Cây có lá thơm, dài thân mảnh và ngọn hoa ở cuối, cao từ 1,5- 2,5 m, có hệ thống rễ nông có lông và xơ với các lá hình mác dài, hình mác thẳng. Cây trưởng thành trung bình có 10- 20 đốt, lóng dài 10- 13 cm, đường kính 3 mm, hơi dài hơn bẹ, ở các đốt thấp gần mặt đất có rễ bất định. Phiến lá có gốc hình tim hay tròn, dài 10- 15 cm, tới 25- 40 cm, rộng 1- 3 cm, mép cao 2- 3 mm, bẹ lá không 5 lông, bao quanh đốt và lóng cây.
Chuỳ hoa ít hoa, cao 10cm, lúc khô có màu đo đỏ, bông không cuống, 4 mm, có mày dưới lõm ở trong. Quả thóc rất nhỏ (Saraswathi et al. Đặc điểm hình thái của cây sả hoa hồng Lá sả: Lá là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất để chưng cất tinh dầu. Lá gồm có bẹ lá ôm sát thân, có gốc lá và phiến lá dài, mềm hơn bẹ.
Chiều dài phiến lá gấp 1,5- 2 lần bẹ lá. Lá hẹp dài, hai mặt và mép lá hơi ráp. Diện tích lá thay đổi tùy thuộc loài, điều kiện ngoại cảnh, các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc.