Tổng quan nghiên cứu

Triển khai Đề án Ngoại ngữ Quốc gia giai đoạn 2008–2020 theo Quyết định số 1400/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng kinh phí 9.378 tỷ đồng đã tạo ra bước chuyển biến sâu rộng trong giáo dục phổ thông Việt Nam. Trọng tâm của đề án là chương trình thí điểm tiếng Anh tiểu học kéo dài 420 tiết từ lớp 3 đến lớp 5 (140 tiết mỗi khối lớp), hướng đến chuẩn đầu ra Bậc 1 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (tương đương chuẩn A1 CEFR). Đứng trước sự đa dạng của thị trường học liệu, việc lựa chọn giáo trình tối ưu trở thành bài toán cấp thiết ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thụ hưởng của học sinh.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh (mã số 60140111) của tác giả Nguyễn Thị Mai, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Hoàng Văn Vân tại Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, tập trung giải quyết vấn đề đánh giá và so sánh chất lượng hai bộ sách phổ biến: Tiếng Anh 3 – Tập 1 (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam hợp tác Nhà xuất bản Macmillan) và Family and Friends – Grade 3 (Nhà xuất bản Đại học Oxford). Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi 50 giáo viên tiểu học tại các điểm trường ở Hà Nội và tỉnh Vĩnh Phúc trong năm học 2015–2016. Mục tiêu cụ thể là xác lập khung tiêu chuẩn gồm 35 tiêu chí đánh giá, chỉ ra điểm tương đồng, dị biệt, cùng ưu khuyết điểm của từng bộ tài liệu. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là thước đo khoa học giúp nâng cao độ tương thích sư phạm lên trên 95%, hỗ trợ đắc lực cho các cấp quản lý và giáo viên trong việc chuẩn hóa việc lựa chọn học liệu tiếng Anh tiểu học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết đánh giá tài liệu giảng dạy ngoại ngữ (Materials Evaluation) kinh điển của Cunningsworth (1995), Sheldon (1988) và Tomlinson (2003, 2008). Giáo trình được xác định là trái tim hữu hình của mọi chương trình ngoại ngữ (theo trích dẫn ngắn từ Sheldon: "visible heart of any EFL program"), đóng vai trò cung cấp đề cương kiến thức, hỗ trợ tự học và định hình chuẩn phương pháp cho giáo viên. Tác giả kết hợp mô hình 8 chiều chất lượng sản phẩm của Garvin (1988) được Mahmood (2009) vận dụng vào giáo dục, cùng bộ tiêu chuẩn chất lượng sách giáo khoa của Ivić, Pešikan và Antić (2008).

Khung đánh giá gồm 4 khái niệm cốt lõi: Đánh giá theo tiến trình (Pre-use, In-use, Post-use), Năng lực giao tiếp (Communicative Competence), Chuẩn đầu ra A1 và Tính thích ứng văn hóa (Cultural Appropriateness). Dựa trên các nguyên lý này, tác giả thiết lập hệ thống chuẩn mực gồm 9 danh mục chuyên sâu: Mục tiêu bài học (Objectives), Bố cục và thiết kế (Layout and Design), Chủ đề (Topics), Kỹ năng ngôn ngữ (Language Skills), Phương pháp sư phạm (Methodology), Dạng thức hoạt động (Types of Activities), Học liệu hỗ trợ (Teaching Aids), Tính liên kết (Linkage) và Giá trị văn hóa (Cultural Values).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính (Mixed Methods). Dữ liệu định lượng thu thập qua bảng khảo sát 35 câu hỏi đóng theo thang đo Likert 5 mức độ (Xuất sắc, Rất tốt, Tốt, Chưa tốt, Kém). Dữ liệu định tính được khai thác qua phỏng vấn sâu bằng thư điện tử (Email Interview) nhằm làm rõ nguyên nhân của các đánh giá phân hóa.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 50 giáo viên có từ 3 đến 4 năm kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh tiểu học, được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích (Purposive Sampling). Trong đó, 25 giáo viên giảng dạy bộ Tiếng Anh 3 – Tập 1 tham gia tại Hội thi giáo viên dạy giỏi ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; 25 giáo viên giảng dạy bộ Family and Friends – Grade 3 được khảo sát tại 3 trường tiểu học công lập (Mai Dịch, Nam Trung Yên, Cộng Hòa) và 3 trung tâm ngoại ngữ (AMA, Popodoo, May School) trên địa bàn Hà Nội. Tỷ lệ phản hồi hợp lệ đạt 100% (50/50 phiếu). Toàn bộ dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, sử dụng thống kê mô tả để chuyển đổi tần số sang tỷ lệ phần trăm (%), giúp so sánh trực quan và khách quan từng nhóm tiêu chí giữa hai bộ giáo trình trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Dữ liệu khảo sát 35 tiêu chí cho thấy cả hai bộ sách đều nhận được sự phản hồi rất tích cực từ giáo viên, tuy nhiên có sự khác biệt rõ nét ở từng chỉ số cụ thể:

Thứ nhất, xét về mức độ đánh giá tổng thể ở ba thang điểm tích cực (Xuất sắc, Rất tốt, Tốt), bộ sách Tiếng Anh 3 – Tập 1 đạt tỷ lệ ấn tượng 98,3% (trong đó 34,2% Xuất sắc, 44,3% Tốt, chỉ 1,2% Chưa tốt và 0% Kém). Trong khi đó, Family and Friends – Grade 3 đạt tổng mức tích cực là 93,8% (với 11,0% Xuất sắc, 21,9% Rất tốt, 61,9% Tốt, 6,2% Chưa tốt và 0% Kém).

Thứ hai, ở nhóm tiêu chí Mục tiêu bài học, Tiếng Anh 3 – Tập 1 đạt tỷ lệ tích cực tuyệt đối 100% (32% Xuất sắc, 56% Rất tốt), đảm bảo hoàn thành chuẩn kiến thức trong khung 140 tiết quy định. Ngược lại, Family and Friends – Grade 3 đạt 94% mức tích cực nhưng có tới 8% giáo viên đánh giá Chưa tốt ở tiêu chí phân bổ thời gian do lượng kiến thức và bài tập quá dày đặc.

Thứ ba, về Bố cục và thiết kế, Tiếng Anh 3 – Tập 1 đạt 98,7% độ hài lòng nhờ khổ sách 19x26,5 cm vừa vặn với học sinh Việt Nam. Ngược lại, Family and Friends – Grade 3 đạt 89,3%, trong đó có 20% giáo viên đánh giá kích thước 21x27,5 cm là quá khổ, gây khó khăn cho học sinh lớp 3 khi thao tác trên lớp.

Thứ tư, về Giá trị văn hóa, Tiếng Anh 3 – Tập 1 đạt 96% độ hài lòng nhờ lồng ghép bối cảnh văn hóa Việt Nam gần gũi, dù 12% giáo viên nhận định sách còn thiếu vắng yếu tố văn hóa Anh – Mỹ. Ngược lại, Family and Friends – Grade 3 chỉ đạt 68% mức tích cực ở nhóm này, với 84% giáo viên đánh giá Chưa tốt do thiếu vắng hình ảnh văn hóa Việt Nam và chứa nhiều từ vựng ngoại lai như hộp cơm trưa (lunch box), bánh sandwich, đĩa bay đồ chơi (Frisbee) hay bập bênh (seesaw).

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của Tiếng Anh 3 – Tập 1 ở tiêu chí mục tiêu và tính liên kết bắt nguồn từ việc bộ sách được biên soạn trực tiếp theo Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tối ưu hóa cho thời lượng 4 tiết mỗi tuần. Ngược lại, Family and Friends – Grade 3 là ấn bản chuyển thể từ chương trình quốc tế của Nhà xuất bản Đại học Oxford, hướng đến việc rèn luyện chuyên sâu các bài thi Cambridge Young Learners (Starters), dẫn đến hiện tượng quá tải kiến thức đối với học sinh đại trà.

Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với khảo sát diện rộng của Hoàng Văn Vân (2015) trên 92 trường tiểu học và nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Ánh (2010). Các dữ liệu phân tích này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ hài lòng ở 9 nhóm tiêu chí, kết hợp bảng thống kê phân bổ tần số Likert 5 mức độ để làm nổi bật khoảng cách chênh lệch giữa hai bộ sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực chứng, luận văn đưa ra 4 giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện việc sử dụng và biên soạn giáo trình tiếng Anh tiểu học:

Thứ nhất, xây dựng cổng học liệu điện tử trực tuyến tích hợp cho bộ sách Tiếng Anh 3 – Tập 1. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần phối hợp với các chuyên gia công nghệ để phát triển hệ thống trò chơi tương tác, ngân hàng bài tập và video hoạt hình bổ trợ. Mục tiêu hướng tới là đạt 100% số bài học có tài nguyên số hóa đi kèm trong vòng 12 tháng kể từ đợt tái bản tới.

Thứ hai, điều chỉnh dung lượng bài học và bản địa hóa nội dung cho giáo trình Family and Friends – Grade 3. Tổ chuyên môn tại các trường tiểu học cần chủ động giảm tải khoảng 15% đến 20% khối lượng bài tập nâng cao trong mỗi đơn vị bài học, đồng thời thay thế các từ vựng xa lạ bằng các khái niệm quen thuộc trong đời sống hàng ngày của học sinh Việt Nam ngay trong học kỳ tiếp theo.

Thứ ba, bổ sung khoảng 25% các hoạt động giao tiếp tương tác nhóm và yếu tố giải trí vào cấu trúc bài học của bộ Tiếng Anh 3. Ban biên soạn sách cần lồng ghép thêm các bài vè phản xạ toàn thân (TPR), bài hát vui nhộn và thông tin văn hóa các nước nói tiếng Anh nhằm nâng tỷ lệ hài lòng về tính hấp dẫn từ 88% lên trên 98% trong chu kỳ chỉnh lý sách 2 năm tới.

Thứ tư, tổ chức định kỳ 100% các khóa tập huấn kỹ năng thích ứng học liệu cho giáo viên. Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành phố cần chủ trì các chuyên đề hướng dẫn giáo viên cách linh hoạt cắt giảm hoặc bổ trợ kiến thức cho hơn 50 trường tiểu học trên địa bàn trước thềm năm học mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các tác giả biên soạn sách giáo khoa và các nhà xuất bản giáo dục. Tài liệu cung cấp bộ khung 35 tiêu chuẩn đo lường thực tế, giúp các chuyên gia nhận diện chính xác khoảng cách giữa lý thuyết thiết kế và trải nghiệm thực tế của 50 giáo viên trực tiếp đứng lớp.

Thứ tư, cán bộ quản lý giáo dục, phòng giáo dục tiểu học và ban giám hiệu nhà trường. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác để ra quyết định lựa chọn bộ sách phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và thời lượng 140 tiết học của từng địa phương.

Thứ ba, giáo viên giảng dạy tiếng Anh tiểu học tại các trường công lập và trung tâm ngoại ngữ. Giáo viên có thể tham khảo bảng phân tích ưu khuyết điểm để chủ động thiết kế giáo án, bổ sung học liệu hình ảnh cho hơn 10 chủ đề trọng điểm, đồng thời cân bằng giữa ngữ liệu văn hóa bản địa và quốc tế.

Thứ tư, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Phương pháp Dạy học Tiếng Anh. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết kế bảng hỏi Likert, phương pháp phỏng vấn định tính qua thư điện tử và kỹ thuật phân tích dữ liệu so sánh trong nghiên cứu đánh giá học liệu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao bộ sách Tiếng Anh 3 – Tập 1 lại đạt tỷ lệ đánh giá mục tiêu phù hợp cao hơn Family and Friends – Grade 3? Tiếng Anh 3 – Tập 1 được thiết kế bám sát khung chương trình thí điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo với thời lượng 140 tiết cho 10 đơn vị bài học. Trong khi đó, Family and Friends – Grade 3 có khối lượng kiến thức chuẩn Cambridge khá nặng, khiến 8% giáo viên phản ánh không đủ thời gian chuyển tải trọn vẹn bài học.

Khổ sách lớn của Family and Friends – Grade 3 gây ra bất cập gì cho học sinh lớp 3? Với kích thước 21x27,5 cm, sách rộng hơn đáng kể so với khổ chuẩn 19x26,5 cm của sách giáo khoa Việt Nam. Khoảng 20% giáo viên cho biết kích thước này khiến học sinh 8 tuổi khó cầm nắm, chiếm nhiều diện tích bàn học và không đồng bộ với các đồ dùng học tập khác.

Hệ thống học liệu bổ trợ của hai bộ sách có điểm gì khác biệt nổi bật? Family and Friends – Grade 3 được đánh giá rất cao (99,7% tích cực) nhờ đĩa MultiROM, thẻ hình flashcard đẹp mắt và website luyện tập phong phú. Tiếng Anh 3 – Tập 1 đạt 98,3% độ hài lòng với đĩa CD phát âm chuẩn, sách bài tập và sách giáo viên chi tiết nhưng thời điểm nghiên cứu chưa có website trực tuyến.

Rào cản văn hóa lớn nhất trong giáo trình Family and Friends – Grade 3 là gì? Có tới 84% giáo viên nhận định sách thiếu vắng các yếu tố văn hóa Việt Nam. Một số từ vựng như bánh sandwich, đĩa bay Frisbee hay hộp cơm trưa mang tính đặc thù phương Tây, gây khó khăn cho việc liên hệ thực tế của học sinh tại nhiều vùng miền.

Phương pháp đánh giá tài liệu nào đóng vai trò nòng cốt trong nghiên cứu này? Nghiên cứu kết hợp phương pháp đánh giá sơ bộ và chuyên sâu theo mô hình của Cunningsworth (1995), sử dụng bảng kiểm định lượng gồm 35 tiêu chí thuộc 9 nhóm chức năng, kết hợp phỏng vấn sâu định tính qua thư điện tử với 50 giáo viên giàu kinh nghiệm.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập thành công khung tiêu chuẩn khoa học gồm 35 tiêu chí thuộc 9 danh mục chuyên sâu để so sánh toàn diện hai bộ giáo trình tiếng Anh lớp 3.
  • Kết quả khẳng định cả hai bộ sách đều đạt độ hài lòng rất cao từ giáo viên, trong đó Tiếng Anh 3 – Tập 1 đạt 98,3% và Family and Friends – Grade 3 đạt 93,8% mức đánh giá tích cực.
  • Tiếng Anh 3 – Tập 1 nổi bật về tính phù hợp mục tiêu, kích thước chuẩn 19x26,5 cm và tính liên kết văn hóa đời sống học sinh Việt Nam.
  • Family and Friends – Grade 3 thể hiện thế mạnh vượt trội về nguồn học liệu bổ trợ MultiROM, tính đa dạng của chủ đề và hệ thống bài tập phát triển năng lực chuẩn quốc tế.
  • Công trình đóng góp nền tảng dữ liệu thực nghiệm quý báu cho Đề án Ngoại ngữ Quốc gia, định hướng chiến lược chỉnh lý sách giáo khoa trong giai đoạn 2 đến 3 năm tiếp theo.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và thầy cô giáo quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai tại thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội để ứng dụng hiệu quả khung tiêu chí 35 chuẩn mực vào công tác giảng dạy và nghiên cứu học liệu ngoại ngữ.