CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nước mặt Nước ta có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, nếu chỉ tính các con sông có chiều dài từ 10 km trở nên và có dòng chảy thường xuyên thì có 2.372 con sông, trong đó có 13 hệ thống lớn có diện tích lưu vực trên 10. Lưu vực của 13 hệ thống sông lớn chiếm hơn 80% diện tích lãnh thổ; 10 trong 13 hệ thống sông trên là sông liên quốc gia. Lưu vực của 9 hệ thống sông chính sông Hồng, Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng , Mã, Cả - La, Thu Bồn, Ba, Đồng Nai, Cửu Long chiếm tới 93% tổng diện tích lưu vực sông toàn quốc gia và xấp xỉ 80% diện tích quốc gia.
Nguồn nước từ các sông trên là nơi cư trú và nguồn sống của các loài động, thực vật và hàng triệu người. So sánh với một số nơi trên thế giới thì nước sông ngòi phần thượng lưu và tại một số hồ lớn ở Việt Nam còn tương đối sạch. Tuy nhiên với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số nông thôn và thành thị tạo nên nhu cầu sử dụng nước lớn trong khi tài nguyên nước là không đổi dẫn đến làm suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng tài nguyên nước. Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi thải ra môi trường.
Nước rò rỉ từ các bãi rác cũng là nguồn gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm nghiêm trọng. Nước thải công nghiệp và sinh hoạt, nước rỉ rác đang là nguy cơ chính gây ô nhiễm kim loại nặng, nitơ, asen… cho các nguồn nước. Mức độ ô nhiễm nước ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề đã rất cao. Ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị lớn và vừa, các khu công nghiệp mới và cũ, nước thải sinh hoạt vẫn còn lẫn lộn với nước thải công nghiệp không qua xử lý tập trung mà trực tiếp thải ra các nguồn tiếp nhận là các sông, hồ, kênh, mương lộ thiên đi qua các khu dân cư và sản xuất.
Hiện nay cả nước có khoảng 1000 bệnh viện (tính đến cấp huyện), mỗi ngày xả hàng trăm nghìn m3 nước thải chưa qua xử lý hoặc chưa xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường. Nước thải từ phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế cũng được thải chung vào hệ thống nước thải công cộng. Hàng 3 năm, lượng hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng trong nông nghiệp khoảng 0,5 – 3,5 kg/ha/vụ, dư lượng hóa chất BVTV và phân khoáng sử dụng trong nông nghiệp gây nhiễm độc nước và hiện tượng phú dưỡng. Độ ô nhiễm của các thủy vực tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
[13] Mức độ ô nhiễm nước đang ngày càng gia tăng do không kiểm soát được nguồn gây ô nhiễm. Tình trạng này đang gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, làm tăng nguy cơ ung thư, sảy thai và dị tật bẩm sinh, dẫn đến suy giảm nòi giống. Tại một số địa phương của Việt Nam, khi nghiên cứu các trường hợp ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ, đã thấy 40 – 50% là do sử dụng nguồn nước ô nhiễm. Thống kê và đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài Nguyên môi trường trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém và gần 200.000 trường hợp mắc bệnh ung thư mới phát hiện, mà một trong những nguyên nhân chính là sử dụng nguồn nước ô nhiễm.
[14] Theo khảo sát của Trung tâm Quan trắc môi trường Quốc gia – Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho thấy hiện trạng môi trường nước mặt lục địa nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng. Miền Bắc tập trung đông dân cư (đặc biệt là Đồng bằng sông Hồng) lượng nước thải đô thị lớn hầu hết của các thành phố đều chưa được xử lý và xả trực tiếp vào các kênh mương và chảy thẳng ra sông. Ngoài ra một lượng lớn nước thải công nghiệp, làng nghề cũng là áp lực lớn đối với môi trường nước. Một số sông ở vùng núi Đông Bắc như: Chất lượng nước sông Kỳ Cùng và các sông nhánh trong những năm gần đây giảm sút xuống loại A2, sông Hiến, sông Bằng Giang còn ở mức B1.
Đầu nguồn (Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang) vài năm gần đây mùa khô xuất hiện hiện tượng ô nhiễm bất thường trong thời gian ngắn 3 – 5 ngày. Sông Hồng qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc hầu hết các thông số đều vượt QCVN 08:2015/BTNMT – A2, một số địa điểm gần các nhà máy thậm chí xấp xỉ cột tiêu chuẩn mức B (đoạn sông Hồng từ công ty Super Phốt phát và hóa chất Lâm Thao đến các KCN phía nam Thành phố Việt Trì), các thông số vượt ngưỡng cột B1 nhiều lần. So với các sông khác trong vùng, sông Hồng có mức độ ô nhiễm thấp hơn. 4 Sông Cầu thời gian qua nhiều đoạn đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các đoạn sông chảy qua các đô thị, KCN và các làng nghề thuộc tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh.
Sông Ngũ Huyện Khuê là một trong những điển hình ô nhiễm trên lưu vực sông Cầu và tình trạng ô nhiễm nặng hầu như không thay đổi. Lưu vực sông Nhuệ – Đáy nhiều đoạn bị ô nhiễm đến mức báo động, vào mùa khô giá trị các thông số BOD5, COD, TSS…tại các điểm đo vượt QCVN 08:2015 mức A nhiều lần. Sông Nhuệ bị ô nhiễm nặng sau khi tiếp nhận nước từ sông Tô Lịch. Lưu vực sông Mã riêng thông số độ đục rất cao, do lượng phù sa lớn và hiện tượng xói mòn từ thượng nguồn.
Miền Trung và Tây Nguyên có một số khu vực chất lượng nước giảm do việc đổi dòng phục vụ các công trình thủy lợi (hiện tượng ô nhiễm trên sông Ba vào mùa khô). Nguồn ô nhiễm chính khu vực Đông Nam Bộ là nguồn ô nhiễm nước mặt chủ yếu do nước thải công nghiệp và sinh hoạt. Sông Đồng Nai khu vực thượng lưu sông chất lượng nước tương đối tốt nhưng khu vực hạ lưu (đoạn qua TP. Biên Hòa) nước sông đã bị ô nhiễm.
Sông Sài Gòn trong những năm gần đây mức độ ô nhiễm mở rộng hơn về phía thượng lưu. Hệ thống sông ở Đồng bằng sông Cửu Long nước thải nông nghiệp lớn nhất nước (70% lượng phân bón được cây và đất hấp thụ, 30% đi vào môi trường nước). Vì vậy chất lượng nước sông Tiền và sông Hậu đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ (mức độ ô nhiễm sông Tiền cao hơn sông Hậu). Sông Vàm Cỏ ô nhiễm bởi nhiều yếu tố: Hoạt động sản xuất từ nhà máy, khu dân cư tập trung.
Sông Vàm Cỏ Đông có mức độ ô nhiễm cao hơn sông Vàm Cỏ Tây. Tổng quan về các sông chính trên địa bàn thành phố Hải Phòng 1. Điều kiện tự nhiên Hải Phòng [15] Vị trí địa lý: Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm ở Vùng Đông Bắc Đồng bằng sông Hồng, có tọa độ địa lý từ 20030’39” – 210 01’15” vĩ độ Bắc và 1060 23’39”- 107 0 08’39” kinh tuyến Đông. Về ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình; phía Tây giáp tỉnh Hải Dương; phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ.
Địa hình: Hải Phòng có địa hình khá phức tạp, đa dạng, gồm cả lục địa và 5 hải đảo, bị chia cắt bởi sông và kênh đào, có mật độ sông lớn nhất Vùng đồng bằng Bắc bộ. Toàn bộ lãnh thổ Hải Phòng được phân chia thành 3 vùng chính: (1) Vùng đá thấp chia cắt mạnh chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở quần đảo Cát Bà, Long Châu và một số đảo khác trong Vịnh Lan Hạ, Hạ Long; (2) Vùng đồi chia cắt mạnh, chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên, chủ yếu tập trung ờ phía Bắc huyện Thủy Nguyên; (3) Vùng đồng bằng, chiếm khoảng 85% diện tích tự nhiên, phân bổ ở hầu hết các huyện và khu vực nội thành. Khí hậu: Thời tiết Hải phòng mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Trong đó, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô, mùa đông là 20,3°C; từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5°C.
- Lượng mưa trung bình từ 1. Do nằm sát biển nên vào mùa đông, Hải Phòng ấm hơn 10C và mùa hè mát hơn 10C so với Hà Nội. - Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23°C – 26 0C, tháng nóng nhất (tháng 6,7) nhiệt độ có thể lên đến 44 0C và tháng lạnh nhất (tháng 1,2) nhiệt độ có thể xuống dưới 5 0C. - Độ ẩm trung bình vào khoảng 80 – 85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 1, tháng 12.
Thủy văn: Vùng biển Hải Phòng có chế độ nhật chiều thuần nhất điển hình là thủy triều theo chế độ nhật chiều: Độ cao 3,7-3,9m, cao nhất là +4,44m, chu kỳ triều ổn định kéo dài 24 giờ, nước ròng xuất hiện trong tháng 7,8; nước cường xuất hiện trong tháng 12 và tháng 1. Tài nguyên nước: Mạng lưới sông ngòi của Hải Phòng có mật độ trung bình từ 0,6 – 0,8 km/km2. Có 6 sông chính và 9 nhánh sông với tổng chiều dài khoảng 300 km là các sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông Luộc… ngoài các sông chính là các nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa hình thành phố như sông Giá (Thủy Nguyên), sông Đa Độ (An Lão – Kiến An – Kiến Thụy – Dương Kinh – Đồ Sơn), sông Tam Bạc… 6 1. Hiện trạng nguồn nước mặt Thành phố Hải Phòng a.
Chất lượng nước một số sông chính của Hải Phòng Hải Phòng đang sử dụng nguồn nước ngọt từ các sông Rế, sông Giá, sông Đa Độ, Chanh Dương, kênh Hòn Ngọc và sông Rế để phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh. Song hiện nay, nguồn nước từ các sông này đang bị ô nhiễm, chất lượng nguồn nước suy thoái nghiêm trọng.