Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nước sạch là yếu tố thiết yếu duy trì sự sống, sức khỏe con người và phục vụ các hoạt động sản xuất kinh tế. Tại khu vực nông thôn miền núi Việt Nam, khả năng tiếp cận với hệ thống cấp nước máy tập trung còn rất hạn chế, người dân chủ yếu khai thác các nguồn nước tự nhiên như nước ngầm từ giếng khoan và nguồn nước mặt lộ thiên từ các khe núi. Xã Gia Phù là một xã thuần nông thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, có diện tích tự nhiên 28,05 km² với 15 bản, phố và dân số 7.203 người (năm 2017). Cùng với quá trình gia tăng dân số, sự phát triển canh tác nông nghiệp với tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ, kết hợp với chất thải chăn nuôi và rác thải, nước thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý triệt để đã tạo áp lực lớn, gây nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng đối với nguồn nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn.

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La" được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
  2. Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu.
  3. Nắm bắt tình hình và nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân địa phương.
  4. Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nguồn nước, đáp ứng nhu cầu sử dụng tại địa phương.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn 15 bản, phố thuộc xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực địa và mẫu nước được thu thập, phân tích trong giai đoạn từ tháng 8/2017 đến tháng 11/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài được xây dựng trên hệ thống cơ sở pháp lý, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và phương pháp nghiên cứu môi trường chuyên ngành:

  • Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn áp dụng:

    • Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13; Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13.
    • Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 19/2015/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành Luật BVMT); Nghị định số 155/2016/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT); Nghị định số 201/2013/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước); Nghị định số 33/2017/NĐ-CP; Nghị định số 154/2016/NĐ-CP; Nghị định số 54/2015/NĐ-CP; Nghị định số 43/2015/NĐ-CP.
    • Các Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thông tư số 40/2014/TT-BTNMT; Thông tư số 13/2014/TT-BTNMT; Thông tư số 12/2014/TT-BTNMT; Thông tư số 19/2013/TT-BTNMT; Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT; Thông tư số 59/2015/TT-BTNMT; Thông tư số 42/2015/TT-BTNMT.
    • Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật: QCVN 02:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt); QCVN 01:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống); QCVN 08-MT:2015/BTNMT; QCVN 09-MT:2015/BTNMT; TCVN 5502:2003; TCVN 6663-11:2011 (hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm); TCXDVN 3989-2012/BXD (tiêu chuẩn tính toán nhu cầu dùng nước).
  • Phương pháp thu thập tài liệu và kế thừa: Thu thập tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê dân số, môi trường từ UBND xã Gia Phù, các văn bản của cơ quan quản lý huyện Phù Yên và tỉnh Sơn La.

  • Phương pháp điều tra, phỏng vấn xã hội học: Thiết lập phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp 50 hộ gia đình tại 15 bản, phố (bản Nhọt I, Nhọt II, Lìn, Vi, Tạo I, Tạo II, Chát, Nà Mạc I, Nà Mạc II, Lá, Nà Khằm I, Nà Khằm II, phố Ngã Ba, phố Mới, phố Tân Lập) để thu thập dữ liệu về nguồn nước sử dụng, đánh giá cảm quan, tập quán xả thải và áp lực từ hoạt động nông nghiệp.

  • Phương pháp lấy mẫu hiện trường: Thực hiện lấy 04 mẫu nước đại diện theo hướng dẫn của TCVN 6663-11:2011:

    • Mẫu 1: Nước giếng khoan hộ ông Hoàng Văn Quý (bản Vi).
    • Mẫu 2: Nước giếng khoan hộ ông Lường Văn Đoan (bản Nà Khằm).
    • Mẫu 3: Nước khe núi hộ ông Lò Văn Sươi (bản Nhọt 1).
    • Mẫu 4: Nước khe núi hộ anh Hoàng Văn Quốc (bản Lá).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Mẫu được bảo quản và phân tích tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với các chỉ tiêu: pH (bằng máy đo pH), Kẽm (Zn - phương pháp so màu), Tổng chất rắn lơ lửng (TSS - phương pháp khối lượng), Sắt tổng số (Fe - phương pháp so màu), Oxy hòa tan (DO - máy đo DO), Độ cứng tổng số (phương pháp chuẩn độ).

  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, xử lý dữ liệu khảo sát và kết quả thử nghiệm bằng phần mềm Microsoft Excel và so sánh đối chiếu trực tiếp với QCVN 02:2009/BYT.


Nội dung chính theo từng chương

Khóa luận được kết cấu thành 5 phần nội dung chính:

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu nước sinh hoạt tại nông thôn miền núi; xác định mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của khóa luận.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở pháp lý về quản lý tài nguyên nước; các khái niệm cơ bản về môi trường, ô nhiễm nước (theo nguồn gốc và tính chất vật lý, hóa học, sinh học); tổng quan vai trò của nước đối với cơ thể người và các ngành kinh tế; tổng quan thực trạng ô nhiễm môi trường nước trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Sơn La (nhấn mạnh sự cố ô nhiễm nước sinh hoạt do sơ chế cà phê tại thành phố Sơn La năm 2017 làm 12.000 hộ dân mất nước); các bệnh lý liên quan đến nguồn nước ô nhiễm (tiêu hóa, giun sán, bệnh do muỗi truyền, bệnh da liễu, mắt).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định cụ thể đối tượng, phạm vi không gian, thời gian nghiên cứu (8/2017 - 11/2017); chi tiết hóa 4 nội dung nghiên cứu chính; mô tả chi tiết quy trình lấy mẫu, các phương pháp phân tích phòng thí nghiệm và phương pháp điều tra xã hội học 50 hộ dân tại 15 thôn bản.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, bao gồm các phát hiện và số liệu cụ thể:

1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Gia Phù

  • Tự nhiên: Địa hình đồi núi chia cắt phức tạp (cao 550 - 600m) và vùng bằng phẳng (250 - 300m dọc QL37, QL43); khí hậu chia 2 mùa rõ rệt, mùa mưa (tháng 3-9) chiếm trên 80% lượng mưa cả năm gây xói mòn, lũ lụt; mùa khô (tháng 10 đến tháng 2 năm sau) gây thiếu nước; hệ thống thủy văn gồm suối Luồn, suối Công, suối Bùa, suối Dinh, suối Nhọt, suối Chát.
  • Dân sinh - kinh tế: Dân số 7.203 người (1.609 - 1.663 hộ); gồm các dân tộc Thái (3.488 người), Mường (2.172 người), Kinh (632 người), Dao, Hoa, Tày; tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp chiếm 92,8%; thu nhập bình quân 5,7 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo 25,8%; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 9,6%/năm.

2. Áp lực phát triển kinh tế - xã hội lên nguồn nước

  • Áp lực từ nông nghiệp: Khảo sát 50 hộ cho thấy nguyên nhân gây áp lực lớn nhất là lạm dụng thuốc diệt cỏ (68% - 34 hộ), tiếp theo là hóa chất BVTV (18% - 9 hộ), phân bón hóa học/hữu cơ (10% - 5 hộ) và phế phụ phẩm nông nghiệp (4% - 2 hộ).
  • Áp lực từ chất thải rắn: 50% số hộ (25 hộ) xử lý rác bằng hình thức đốt; 26% (13 hộ) được thu gom bởi xe rác (chỉ có tại trục đường quốc lộ); 22% (11 hộ) chọn chôn lấp trong đất; 2% (1 hộ) vứt trực tiếp ra ao hồ.
  • Áp lực từ nước thải sinh hoạt: 46% (23 hộ) xả nước thải trực tiếp ra nền đất tự nhiên; 36% (18 hộ) xả vào cống thoát nước dọc đường quốc lộ; 18% (9 hộ) xả trực tiếp ra ao, hồ.
Dạng áp lực môi trường Hình thức / Nguồn gây áp lực Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
Nông nghiệp (n=50) Thuốc diệt cỏ 34 68%
Hóa chất BVTV 9 18%
Phân bón hóa học, hữu cơ 5 10%
Phế phụ phẩm nông nghiệp 2 4%
Rác thải sinh hoạt (n=50) Tự đốt rác 25 50%
Xe rác thu gom (dọc QL) 13 26%
Chôn lấp vào đất 11 22%
Vứt ra ao, hồ 1 2%
Nước thải sinh hoạt (n=50) Đổ trực tiếp ra đất 23 46%
Đổ vào cống thoát nước 18 36%
Đổ trực tiếp ra ao, hồ 9 18%

3. Hiện trạng khai thác và nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt

  • Cơ cấu nguồn nước: 100% hộ dân chưa có nước máy; 64% (36 hộ) dùng nước dẫn từ khe núi; 36% (18 hộ) khai thác nước giếng khoan.
  • Nhu cầu sử dụng nước: Căn cứ định mức 100 lít/người/ngày (TCXDVN 3989-2012/BXD), tổng nhu cầu dùng nước toàn xã là 720.300 lít/ngày (720,3 m³/ngày), tương đương 259.308.000 lít/năm.
  • Đánh giá cảm quan của người dân: 88% (44 hộ) nhận định nước không có vấn đề lạ; 8% (4 hộ) phản ánh nước có màu lạ (màu vàng/đục sau mưa lũ do ngấm nước bẩn và bể chứa không có nắp đậy); 4% (2 hộ) phản ánh nước có mùi lạ (tanh/hôi do đường dẫn hoặc giếng khoan ít vệ sinh).

4. Kết quả phân tích chất lượng nước phòng thí nghiệm

Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Mẫu 1 (Giếng khoan bản Vi) Mẫu 2 (Giếng khoan Nà Khằm) Mẫu 3 (Khe núi bản Nhọt 1) Mẫu 4 (Khe núi bản Lá) QCVN 02:2009/BYT
pH - 5,28 5,24 5,29 5,20 6,0 – 8,5
Kẽm (Zn) mg/l 0,01 0,03 0,02 0,03 3,0
TSS mg/l 30,20 38,00 40,00 33,00 -
Sắt tổng số (Fe) mg/l 0,29 0,01 0,04 0,07 0,5
DO mg/l 5,60 7,10 9,90 4,43 -
Độ cứng mg CaCO₃/l 316,00 312,00 216,00 268,00 350

Đánh giá kết quả: Các chỉ tiêu Fe (0,01 - 0,29 mg/l), Zn (0,01 - 0,03 mg/l) và Độ cứng (216 - 316 mg CaCO₃/l) ở cả 4 mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 02:2009/BYT. Tuy nhiên, chỉ tiêu pH ở cả 4 mẫu (5,20 - 5,29) đều thấp hơn ngưỡng quy chuẩn (6,0 - 8,5), cho thấy nguồn nước có tính axit nhẹ, có nguy cơ gây ăn mòn đường ống dẫn và dụng cụ kim loại chứa nước.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ kết quả phân tích hiện trạng môi trường nước, đưa ra kết luận về các chỉ số đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn; đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp bảo vệ nguồn nước sạch.


Kết quả và đóng góp

1. Kết quả chính từ nghiên cứu

  • Định lượng hóa nhu cầu nước sinh hoạt toàn xã Gia Phù đạt 720,3 m³/ngày (259.308 m³/năm).
  • Làm rõ cơ cấu cấp nước sinh hoạt: 64% phụ thuộc vào nước khe núi tự chảy, 36% khai thác nước ngầm qua giếng khoan, chưa có mạng lưới cấp nước sạch tập trung.
  • Nhận diện các nguồn phát sinh áp lực môi trường: việc sử dụng thuốc diệt cỏ trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ áp lực cao nhất (68%); tỷ lệ xử lý chất thải sinh hoạt còn thô sơ (50% đốt rác, 46% xả nước thải trực tiếp ra mặt đất).
  • Đánh giá chất lượng nước qua kiểm nghiệm lý hóa: Hầu hết các chỉ tiêu hóa lý cơ bản (Fe, Zn, độ cứng) đều đạt tiêu chuẩn QCVN 02:2009/BYT, nhưng 100% mẫu nước thử nghiệm đều có độ pH thấp (5,20 - 5,29), chưa đạt ngưỡng cho phép (6,0 - 8,5).

2. Các giải pháp do tác giả đề xuất

  • Biện pháp giáo dục và tuyên truyền: Tuyên truyền nâng cao ý thức người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ đúng quy cách; vận động không xả rác thải, phân gia súc và nước thải sinh hoạt bừa bãi ra nguồn nước và khe suối; vệ sinh định kỳ dụng cụ chứa và giếng khoan.
  • Biện pháp kinh tế: Áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với các hoạt động xả thải; thực hiện chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi gây ô nhiễm nguồn nước; áp dụng chính sách ưu đãi cho các mô hình sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả.
  • Biện pháp kỹ thuật và công nghệ: Khuyến khích người dân xây dựng bể lọc nước đơn giản (dùng cát, sỏi, than hoạt tính) hoặc trang bị thiết bị lọc nước gia đình để nâng độ pH và lọc cặn lơ lửng; lắp đặt nắp đậy kiên cố cho các bể chứa nước khe núi để tránh nước mưa cuốn trôi chất bẩn vào mùa lũ.
  • Nâng cao hiệu quả quản lý môi trường: Chính quyền địa phương cần lập quy hoạch bảo vệ hành lang nguồn nước; đầu tư mở rộng hệ thống cống rãnh thoát nước thải và mạng lưới xe thu gom rác thải vào sâu trong các bản; tăng cường kiểm tra định kỳ chất lượng nguồn nước.

3. Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt (nước ngầm và nước khe núi) tại xã Gia Phù, huyện Phù Yên; làm rõ mối quan hệ giữa tập quán canh tác nông nghiệp, phương thức xả thải sinh hoạt nông thôn với chất lượng môi trường nước tại một xã miền núi thuộc tỉnh Sơn La.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Số lượng mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm còn hạn chế (04 mẫu tại 4 bản trong tổng số 15 bản, phố của xã) do điều kiện kinh phí và thời gian thực tập.
    • Các chỉ tiêu phân tích mới tập trung vào các thông số lý hóa cơ bản (pH, Fe, Zn, TSS, DO, độ cứng); chưa phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật (Coliform, E.coli) và dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ trong nước.
    • Thời gian quan trắc chỉ diễn ra trong các tháng cuối năm (mùa khô từ tháng 8 đến tháng 11/2017), chưa theo dõi biến động chất lượng nước trong các tháng cao điểm mùa mưa lũ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Mở rộng phạm vi và số lượng điểm lấy mẫu trên toàn bộ 15 bản của xã Gia Phù.
    • Bổ sung phân tích các chỉ tiêu vi sinh và độc chất nông nghiệp (dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ) trong nguồn nước khe núi và nước ngầm.
    • Thực hiện quan trắc liên tục theo các mùa trong năm để đánh giá chính xác tải lượng ô nhiễm và ảnh hưởng của hiện tượng rửa trôi bề mặt vào mùa mưa.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Địa chính môi trường, Quản lý tài nguyên, Khoa học môi trường khi thực hiện khóa luận, tiểu luận về đánh giá chất lượng nước sinh hoạt nông thôn miền núi hoặc phương pháp khảo sát xã hội học môi trường.
  • Cán bộ quản lý địa phương: Cán bộ địa chính - nông nghiệp - môi trường xã Gia Phù, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phù Yên sử dụng số liệu để xây dựng kế hoạch quản lý nguồn nước, quy hoạch bãi rác và định hướng đầu tư các trạm cấp nước sạch sinh hoạt nông thôn.
  • Các phần đáng tham khảo: Phương pháp tính toán nhu cầu sử dụng nước nông thôn theo tiêu chuẩn xây dựng; quy trình điều tra phỏng vấn áp lực nông nghiệp lên nguồn nước; phương pháp lấy mẫu và phân tích đối chiếu với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2009/BYT.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nước sinh hoạt chính của các hộ dân tại xã Gia Phù được khai thác từ đâu?

Theo kết quả điều tra 50 hộ gia đình trên địa bàn xã, 100% người dân chưa được tiếp cận với nguồn nước máy. Trong đó, 64% (36 hộ) sử dụng nguồn nước dẫn tự chảy từ các khe núi tự nhiên và 36% (18 hộ) sử dụng nước ngầm khai thác từ giếng khoan.

2. Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt hàng ngày của toàn xã Gia Phù được tính toán là bao nhiêu?

Căn cứ theo TCXDVN 3989-2012/BXD với định mức tiêu thụ 100 lít/người/ngày cho quy mô dân số 7.203 người, tổng nhu cầu nước sinh hoạt của xã Gia Phù là 720.300 lít/ngày (tương đương 720,3 m³/ngày) và 259.308.000 lít/năm.

3. Kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm cho thấy chỉ tiêu nào trong nước không đạt quy chuẩn?

Tất cả 4 mẫu nước (02 mẫu giếng khoan và 02 mẫu khe núi) đều có giá trị pH nằm ngoài ngưỡng quy định của QCVN 02:2009/BYT (quy chuẩn: 6,0 – 8,5). Cụ thể, pH dao động từ 5,20 đến 5,29 (mẫu 1: 5,28; mẫu 2: 5,24; mẫu 3: 5,29; mẫu 4: 5,20), thể hiện môi trường nước có tính axit nhẹ. Các chỉ tiêu Fe, Zn và độ cứng đều đạt quy chuẩn cho phép.

4. Hoạt động nông nghiệp nào tạo ra áp lực lớn nhất đối với nguồn nước tại xã Gia Phù?

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng việc lạm dụng thuốc diệt cỏ trong quá trình canh tác nông nghiệp là nguồn gây áp lực lớn nhất, chiếm tỷ lệ 68% (34/50 hộ), tiếp theo là sử dụng hóa chất BVTV chiếm 18% (9/50 hộ), phân bón hóa học/hữu cơ chiếm 10% (5/50 hộ) và phế phụ phẩm nông nghiệp chiếm 4% (2/50 hộ).

5. Thực trạng xử lý rác thải và nước thải sinh hoạt của các hộ dân tại xã Gia Phù diễn ra như thế nào?

Đối với rác thải sinh hoạt, 50% số hộ tự xử lý bằng cách đốt, 26% đưa ra thùng rác dọc quốc lộ để xe thu gom, 22% chôn lấp vào đất và 2% vứt ra ao hồ. Đối với nước thải sinh hoạt, 46% số hộ đổ trực tiếp ra nền đất, 36% đổ vào cống thoát nước dọc đường quốc lộ và 18% xả trực tiếp ra ao, hồ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Thu đã phản ánh chi tiết hiện trạng khai thác, sử dụng và chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La trong năm 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy toàn bộ người dân phụ thuộc vào nguồn nước khe núi và giếng khoan tự khai thác mà chưa qua hệ thống lọc đạt chuẩn, trong bối cảnh chịu nhiều áp lực từ thuốc diệt cỏ và nước thải, rác thải chưa xử lý. Mặc dù các chỉ tiêu kim loại và độ cứng đều nằm trong giới hạn an toàn, độ pH của nước ở mức thấp (5,20 - 5,29) đòi hỏi địa phương cần sớm triển khai các giải pháp xử lý nước hộ gia đình và đầu tư mạng lưới cấp nước sạch tập trung.