Đặt vấn đề Như chúng ta đã biết nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản: quang hợp, tổng hợp chất dinh dưỡng. Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên Trái Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³. Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống.
Việc cung cấp nước uống sẽ là một trong những thử thách lớn nhất của loài người trong vài thập niên tới đây. Nước là nguồn tài nguyên có hạn và ngày đang chịu rất nhiều các sức ép từ các hoạt động phát triển kinh tế cũng như các quá trình tự nhiên như phân hủy chất hữu cơ (lá cây, cành cây, xác động vật,.), sự gia tăng dân số đã làm cho nguồn nước bị suy giảm về cả chất lượng và số lượng. Ở Việt Nam cũng không nằm ngoài những sức ép đó. Mặc dù Việt Nam là nước có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc nhưng hiện vẫn có rất nhiều địa phương đang rất thiếu nguồn nước sinh hoạt trầm trọng, nơi có thì chất lượng không đảm bảo, nguồn nước chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên từ mưa, ao, hồ…các nguồn này dễ nảy sinh mầm bệnh, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người sử dụng.
Ở các vùng nông thôn tỉ lệ người được tiếp cận nước sạch thấp so với các khu vực thành thị. Có rất nhiều nguyên nhân làm suy giảm chất lượng nước ngầm, một trong số đó là sự phân hủy chất hữu cơ từ xác cơ thể người. Theo phong tục tập quán ở Việt Nam, khi mất thường được an táng bằng hình thức địa táng là chủ yếu. Hình thức địa táng cần sử dụng diện tích đất rất nhiều, các chất phân hủy ra từ cơ thể người ngấm vào đất làm ô nhiễm nguồn nước ngầm.
Nhất là tại các khu vực chôn cất lớn như nghĩa trang, nguy cơ này là rất lớn. 2 Nghĩa trang Dốc Lim thành phố Thái Nguyên là nơi chôn cất tập trung lớn nhất của thành phố Thái Nguyên với hàng ngàn người mỗi năm. Điều đó đặt cho mỗi người trong chúng ta rất nhiều câu hỏi. Quá trình phân giải chất hữu cơ ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng nước ngầm không? Nếu có thì mức độ ô nhiễm là như thế nào? Những tác động đến sức khỏe ra sao? Chúng ta cần làm gì để hạn chế điều đó?.
Đứng trước các thắc mắc đó, để đánh giá chính xác chất lượng nước ngầm khu vực xung quanh nghĩa trang Dốc Lim thành phố Thái Nguyên, tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá chất lượng nước ngầm khu dân cư xung quanh nghĩa trang Dốc Lim xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 1. Mục đích của đề tài Đánh giá hiện trạng chất lượng nước ngầm khu dân cư xung quanh nghĩa trang Dốc Lim xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên để thấy được mức độ ảnh hưởng của khu nghĩa trang đến chất lượng nước ngầm khu dân cư xung quanh nghĩa trang, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước ngầm. Ý nghĩa của đề tài - Điều tra thu thập thông tin trung thực, khách quan và phân tích số liệu để phản ánh thực trạng chất lượng nước ngầm.
- Xác định đầy đủ các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm. - Đảm bảo mẫu phân tích không bị nhiễm các tạp chất từ bên ngoài môi trường. - Kết quả nghiên cứu chính xác, đánh giá được đầy đủ chất lượng nước ngầm.Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa khoa học Đề tài là một bước nghiên cứu ảnh hưởng của nghĩa trang đến chất lượng nước ngầm khu dân cư xung quang nghĩa trang Dốc Lim, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên. Ngoài ra đề tài còn là tài liệu tham khảo cho 3 các quá trình quy hoạch và xây dựng các khu nghĩa trang đảm bảo ít chịu ảnh hưởng đến môi trường nhất.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài góp phần đánh giá được thực trạng chất lượng môi trường nước ngầm tại khu nghĩa trang tỉnh Thái Nguyên. - Tìm hiểu được mức độ ô nhiễm của khu nghĩa trang, đưa ra những định hướng đúng đắn trong công tác quản lý và xây dựng các khu nghĩa trang tiếp theo đảm bảo môi trường. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở pháp lý - Căn cứ theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.
- Căn cứ theo Nghị định 80/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều khoản của Luật bảo vệ môi trường. - Căn cứ Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ xung một số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của luật Bảo vệ môi trường. - Căn cứ theo Nghị định số 35/2008NĐ-CP về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang. - Căn cứ theo Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 25 tháng 6 năm 2002 của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường về việc công bố danh mục Tiêu chuẩn Việt Nam về moi trường bắt buộc áp dụng.
- Căn cứ theo Quyết định số 16/2008/QĐ- BTNMT, ngày 13/12/2008 của Bộ Tài nguyên và môi trường về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. - Căn cứ theo Thông tư số: 05/2009/TT - BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt. - Căn cứ theo Quy chuẩn Việt Nam 9/2008/BTNMT - quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước ngầm.
- Căn cứ theo quy chuẩn Việt Nam 5944-1995 - Tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nước ngầm. - Căn cứ Tiêu chuẩn Việt Nam 9/2005/QC-BYT của bộ y tế- tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch. Cơ sở khoa học 2. Khái niệm và thuật ngữ liên quan đến đề tài nghiên cứu.
* Khái niệm môi trường: 5 Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, môi trường được định nghĩa như sau:”Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”[1]. * Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005:”Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người, sinh vật”[1]. * Khái niệm ô nhiễm môi trường nước: “Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lí - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện của các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và nguy hiểm thì ô nhiễm nước nguy hiểm hơn ô nhiễm đất” [12].
* Khái niệm tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam 2005: “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”[1]. *Khái niệm nước sạch và nước hợp vệ sinh: Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu như: nước trong, không màu, không có mùi vị lạ, không có tạp chất, không chứa chất tan có hại, không có mầm gây bệnh, hay đáp ứng các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước cung cấp dành cho mục đích ăn uống [5]. Nước hợp vệ sinh là nước được sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các yêu cầu chất lượng về cảm quan như không màu, không mùi, vị lạ và không chứa các thành phần gây hại cho sức khỏe con người, có thể sử dụng cho ăn uống sau khi đun sôi [5]. Các nguồn nước đạt theo tiêu chuẩn hợp vệ sinh được cấp từ các công trình như trạm cấp nước, giếng khoan tầng nông hoặc sâu được sử dụng 6 thường xuyên, nước mưa hứng và trữ trong bể, lu chứa được rửa sạch, nước sông, nước suối không bị ô nhiễm bởi các chất thải của người hay động vật, hóa chất hoặc các chất thải công nghiệp, làng nghề.
Chất lượng nước giếng khoan và nước giếng đào phải đảm bảo khoảng cách so với các công trình phụ như nhà tiêu, chuồng gia xúc hoặc các nguồn gây ô nhiễm khác ( bao gồm cả nhà hàng xóm ) tối thiểu là 10m. thành giếng phải được xây bằng gạch, đá cao tối thiểu 0.6m và thả ống bi sâu ít nhất 3m kể từ mặt đất, sân giếng ( nền giếng ) được lát bằng gạch, đá hoặc đổ bê tông, không bị nứt nẻ để tránh việc rửa, tắm giặt ngấm trực tiếp xuống giếng. Giếng đất công cộng không đạt tiêu chuẩn là nguồn nước hợp vệ sinh. Nước mưa được thu hưng từ mái ngói, mái tôn, trần nhà bằng bê tông sau khi đã được rửa sạch trước khi thu hứng vào trong thiết bị chứa nước và phải có nắp đậy cẩn thận.
Tuy nhiên nước được thu hứng bằng tấm lợp fibro-xi-măng có chứa amiăng là chất gây ung thư nên khuyến cáo không nên sử dụng nguồn nước này, đặc biệt là cho mục đích ăn uống, loại nước này không được cơi là hợp vệ sinh đảm bảo an toàn. Nước tự chảy được lấy từ khe suối hoặc mạch nước trên sườn núi dẫn bằng ống về các bể chứa hay vòi tiêu thụ trong khu dân cư. Đây là loại nước khá phổ biện hiện nay, đặc biệt là vùng đồi núi nơi có địa hình cao, loại hình này được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn với rất nhiều chương trình, dự án trong và ngoài nước. Tùy theo quy mô mà các công trình này có thể cung cấp cho diện hẹp hay diện rộng.
Nước được bơm từ giếng khoan hay sông, hồ và đã được lọc qua giàn mưa, bể lắng, bể lọc, khử khuẩn rồi bơm lên tháp cao hoặc đẩy thẳng vào đường ống dẫn đến bể chứa của tập thể hoặc gia đình. Một số thông số đánh giá chất lượng nước * Chỉ tiêu pH - Nguồn nước có pH > 7 thường chứa nhiều ion nhóm cacbonat và dicacbonat (do chảy qua nhiều tầng đất đá). Nguồn nước có pH < 7 thường chứa nhiều ion gốc axit.