Đặt vấn đề Hiện nay xã hội ngày một phát triển, chất lượng cuộc sống con người ngày càng được nâng cao. Con người ngày càng ưu tiên sức khỏe lên hàng đầu và quan tâm đến những thực phẩm, sản phẩm tốt cho sức khỏe. Nhắc đến sản phẩm tốt cho sức khỏe không thé thiếu Đông trùng hạ thảo (DTHT), loại nấm dược liệu quý rat được quan tâm hiện nay. Đông trùng hạ thảo (Cordyceps sp.), còn gọi là trùng thao, hạ thảo đông trùng hay đông trùng thảo, là một nắm dược liệu quý được sử dụng phô biến trong y học cô truyền ở các nước Chau A.
Trong khoảng hơn 500 loài thuộc chi Cordyceps thì hai loài được quan tâm nhiều nhất là Ophiocordyceps sinensis và Cordyceps militaris bởi vì giá trị được liệu của chúng cao. Nam Ophiocordyceps sinensis có giá trị dược liệu cao , tuy nhiên chỉ tìm thấy ngoài tự nhiên và là loài đặc hữu của Cao nguyên Tây Tạng và vùng phụ cận, bao gồm các tỉnh Tây Tạng, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Vân Nam ở Trung Quốc và dãy Himalaya như Bhutan, Ấn Độ và Nepal (Li và ctv, 2011 ; Yan va ctv, 2017). sinensis chỉ có trong tự nhiên, gia thành đắt đỏ và có nhiều khó khăn trong việc nuôi trồng nhân tạo quy mô lớn nên dẫn đến cạn kiệt các nguồn tài nguyên hoang dã. militaris chứa một số thành phần hóa học có hoạt tính sinh học như cordycepin, mannitol, cordypolysaccarid, superoxide dismutise, axit amin, adenosine và các thành phan khác hiện diện thậm chí cao hon ở O.
militaris đã được xây dựng thành công quy trình nuôi trồng quy mô sản xuất lớn, dé nuôi trồng hơn, giá thành thấp hơn O. militaris được sử dụng rộng rãi dé thay thé cho O. sinensis dé đáp ứng nhu cau của thị trường (Wang và ctv 2017). militaris chứa nhiều hoạt chất được liệu quý tốt cho sức khỏe con người, được xem là thực phâm chức năng và có tiêm năng làm thuôc rât tôt.
Vì thê, việc nghiên cứu phát triển nuôi trồng C. militaris trong điều kiện nhân tạo là rất cần thiệt đê phục vụ nhu câu quan tâm đên sức khỏe của cộng đông. Nhộng tằm, ký chủ tương tự ngoài tự nhiên, nguồn cung cấp dinh dưỡng đồi dao, là một trong các loại giá thể nuôi trồng C. militaris phô biến hiện nay.
Nhằm khảo sát dang nhộng tằm làm giá thé dé nuôi trồng DTHT cho năng suất sinh học và hàm lượng dược chat tối ưu nhất, dé tai “Đánh giá chất lượng nam Cordyceps militaris nuôi trồng trên các dạng nhộng tằm” được thực hiện. Mục tiêu đề tài Đánh giá chất lượng nam C. militaris nuôi trồng trên các dạng nhộng tằm khác nhau, phục vụ cho nuôi trông sản xuât C. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá chất lượng đầu vào của 4 dạng nhộng tằm.
Nội dung 2: Tiến hành nuôi trồng nắm Cordyceps militaris trên 4 dang nhộng tằm khác nhau. So sánh các đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất sinh học và hàm lượng dược chất giữa C. militaris nuôi trồng ở 4 dạng nhộng tằm trên. Từ đó chọn lọc dạng nhộng tằm phù hợp cho nuôi trồng sản xuất DTHT.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về Đông trùng ha thảo Cordyceps sp. Đông trùng hạ thảo tên tiếng anh là caterpillar fungus (Holliday, 2005). Tên gọi "Đông trùng hạ thảo" là xuất phát từ quan sát thực tế khi thấy vào mùa hè nam Ophiocordyceps sinensis (hay còn gọi là Cordyceps sinensis) mọc choi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất.
Vào mùa đông thì nhìn cặp cá thể này giống con sâu (côn trùng), còn đến mùa hè thì chúng trông giống thảo mộc hơn (Trần Văn Năm va ctv, 2014). Đông trùng hạ thảo là phức chất khô bao gồm quả thé của nam Cordyceps và xác âu trùng của côn trùng mà nam ky sinh trên đó. Nó được tìm thấy chủ yếu ở độ cao lớn trên cao nguyên Thanh Hải - Tây Tạng và dãy núi Dolpo của Nepal. Loại nam này ký sinh, phát triển và lay chất dinh dưỡng từ một số loài sâu bướm, chủ yếu là loài sâu bướm Hepialus Armoricanus Oberthur, sông sâu 5 - 6 inch dưới lòng dat (Chen và Jin, 1992; Yin va Tang, 1995).
Hiện nay, khoảng 700 loài Cordyceps được đưa ra tài liệu với hơn 400 loài có khả năng hình thành quả thé (Kobayashi, 1941; Petch, 1936) trong đó khoảng 78 loài đã được chọn lọc và định danh theo loại ký chủ và hình dang qua thé (Sung, 1996), chúng được tìm thấy ở cả sáu lục địa, trong nhiều tầng khí hậu và môi trường khác nhau. Chỉ riêng ở Trung Quốc đã tìm thấy khoảng 60 loài. Trên thực tế, sự phát tán của loại nam dược liệu quý hiếm này được thực hiện qua không khí, mưa và côn trùng. Trong toàn bộ vòng đời của nó theo ba giai đoạn là xâm nhiễm, ký sinh và hoại sinh (Pal và Misra, 2018).
Trong giai đoạn đầu, Cordyceps sp. lây nhiễm vào vat chủ ở giai đoạn ấu trùng thông qua nang bào tử (ascospores), được phát tán trong không khí từ các quả thể trưởng thành vào mùa hè và đầu mùa thu và nảy mầm. Trong một số trường hợp, vật chủ nhiễm được tạo ra do ăn phải thực phẩm bị nhiễm bởi sợi nam Cordyceps sp. Giai đoạn ky sinh xảy ra sau khi bị xâm nhiễm, và trong giai đoạn này, Cordyceps sp.
được nuôi dưỡng từ ruột của vat chủ. Các tế bảo nam lây lan khắp cơ thé và sinh sôi nhanh chóng trong mùa đông, tiêu thụ tất cả các cơ quan nội tạng của ấu trùng, dé lại nguyên vẹn bộ xương ngoài. Sau đó, tế bào nam biến đổi thành một khối màu trắng bên trong co thể ấu trùng (Tuli 3 và ctv, 2013a ; Baral và ctv, 2015). Trong quá trình xâm nhập va ký chủ lên sâu bướm, trốn tránh hệ thống miễn dịch của vật chủ bằng cách hài hòa vòng đời của vật chủ, tương tác với ký chủ sẽ tạo ra các chất chuyền hóa thứ cấp khác nhau, chẳng hạn như cordycepin, adenosine, guanosine, cordymin, axit y-aminobutyric (GABA), exopolysaccharides, cordysinin AE, va cac chat khac (Olatunji va ctv, 2018).
Xuyén suốt quá trình này, các điều kiện môi trường rat khắc nghiệt, và nam phải chống chọi với điều kiện tuyết và lạnh. Khi mùa xuân bắt đầu, nhiệt độ bên ngoài tăng lên, nội bào tử nảy mầm và dun ra trong khoang miệng của vật chủ, trưởng thành vào mùa hè, hình thành quả thé và bắt đầu giải phóng bảo tử nam (giai đoạn hoại sinh). Vào mùa hè, việc thu hái nắm được thực hiện (Das va ctv, 2021). Hiện nay phổ biến nhất là hai loài O.
militaris Theo Jedrejko và ctv (2021), Ophiocordyceps sinensis , được đưa vào Dược điển Trung Quốc (2015), và nồng độ Adenosine của nó được coi là chỉ tiêu chất lượng chính. Tuy nhiên, do nguồn tài nguyên hạn chế của O. sinensis , sự xuất hiện đặc hữu, chu kỳ sống trong hệ sinh thái tốn nhiều thời gian, va quá trình thu hoạch loai nay từ khu vực tự nhiên dẫn đến giá rất cao. Thêm vào đó có nhiều khó khăn trong việc phát triển nuôi cấy nhân tạo O.
Trong điều kiện nuôi cấy trong ống nghiệm, sợi nam O. sinensis không thé tổng hợp cordycepin (hoặc chỉ có thé tong hợp với một lượng không đáng kể) và có hàm lượng axit amin và D-mannitol thấp hơn so với trong quả thé của loài này thu được từ các địa điểm tự nhiên (Wang và ctv, 2015). militaris là một giải pháp thay thé cho C. sinensis vì đã được nuôi trồng với quy mô sản xuất lớn trong thời gian ngắn, thành phần định tính và định lượng của các chất có hoạt tính sinh học từ C.
militaris được nuôi cấy trong ống nghiệm không khác với hàm lượng của các chất nay trong qua thé của C. Phân tích thành phan của C. militaris từ môi trường nuôi cấy cho thay nồng độ của cordycepin và polysaccharid cao hon ở C. sinensis từ môi trường tự nhiên.
Hiện nay loại nắm này được nuôi trồng phổ biến đê đáp ứng nhu câu chăm sóc sức khỏe của cộng đông. Tổng quan DTHT Cordyceps militaris 2. Giới thiệu về Cordyceps militaris Giới (regnum): Fungi Ngành (phylum): Ascomycota Phan nganh (subphylum): Ascomycotina Lớp (class): Ascomycetes B6 (order): Hypocreales Ho (family): Clavicipataceae Hình 2. militaris được nuôi Chi (genus): Cordyceps trồng tai PTN Nghiên cứu và phat triên Cordyceps, Trường Dai học Loài (species): Cordyceps militaris Néng Lam TPHCM Ngoài tự nhiên, C.
militaris được tìm thấy vào mùa hè ở các vùng núi từ 2000 đến 3000 m so với mực nước biển, phân bé rộng (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam A) (Wang, 1995; Sung, 1996; Li và ctv, 2006). Khác với sự xuất hiện đặc hữu, đắt đỏ và chỉ mọc ở ngoài tự nhiên của C. milifaris đã được nuôi trồng sản xuất ở quy mô nhân tạo lớn do có dược tính tốt và có thời gian sản xuất ngắn (Li và ctv, 2006). Hàm lượng các hoạt chất có hoạt tính sinh học của C.
militaris như cordycepin, mannitol, cordypolysaccarid, superoxide dismutise, axit amin, adenosine và nhiều thành phan khác tương đương, thậm chi còn cao hơn của loài C. Dựa trên sự hiện diện các hợp chất có hoạt tính sinh học tốt, C. militaris chắc chan xứng đáng được coi là thực phẩm chức năng và cũng có tiềm năng sử dụng làm thuốc rat tốt. Các báo cáo khoa học gần đây chỉ ra tiềm năng của cordycepin trong hoạt động kháng virus, đặc biệt là chống lại COVID-19 (Jedrejko va ctv, 2021).
Đặc điểm sinh học Cordyceps militaris Nam C. militaris là loài nam ký sinh trên bướm va sâu bướm, có mau cam, chiều dai 8 - 10 cm. Đầu quả thé nam có các đốm màu cam sáng. Quả thé nam mọc lên từ xác ấu trùng hoặc nhộng và rỗng ở giữa.
Các nang bao tử dai từ 300 - 510 pm, bề rộng khoảng 4 pm. Các bào tử nang hình sợi, không màu và phân đoạn, kích thước 3,5 - 6,0 x 1,0 - 1,5 um. Các bao tử nang nảy chi tạo các bao tử thứ cấp. Nam nay có phân bồ rộng, ở Bắc Mỹ, chau Âu và chan A (Paul va ctv, 2008).
C militaris có hình thái đa dạng và có khả năng thích nghi với nhiều loài ký chủ côn trùng. Ký chủ ngoài tự nhiên bao gồm ấu trùng và nhộng các loài bướm. Các ký chủ thường gặp là ấu trùng và nhộng của các côn trùng thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera. Ngoài ra còn có ký sinh trên côn trùng thuộc bộ cánh cứng Coleoptera, bộ cánh mang Hymenoptera, bộ hai cánh Diptera.
Irong tự nhiên thì kích thước qua thé của C. militaris thường nhỏ hon so với qua thé được nuôi cấy nhân tạo. Mật độ của các sợi nâm tùy thuộc vào môi trường nuôi cây và các yêu tô ảnh hưởng khác. Bộ gen của C.militaris đã được giải trình tự.
Tông kích thước bộ gen 32,2 Mb và dự đoán mã hóa mã hóa 9.