Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Trình bày các cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn về chất lượng dịch vụ, tổng quan tài liệu nghiên cứu, mô hình đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 2: Đánh giá chất lượng dịch vụ tiệc cưới tại nhà hàng khách sạn Duy Tân Huế - Trình bày những nét tổng quát về khách sạn Duy Tân Huế và dịch vụ tiệc cưới tại nhà hàng khách sạn Duy Tân Huế. - Đánh giá chất lượng dịch vụ tiệc cưới tại nhà hàng khách sạn Duy Tân Huế. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tiệc cưới tại nhà hàng khách sạn Duy Tân Huế Từ kết quả nghiên cứu và xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn cũng như định hướng của khách sạn sắp tới để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tiệc cưới tại nhà hàng khách sạn Duy Tân Huế.
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thị Thanh Nga PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU C ƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm dịch vụ Do tính chất phức tạp, đa dạng và tính vô hình của dịch vụ nên các nhà nghiên cứu hiện này vẫn chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Đến nay vẫn có rất nhiều khái niệm về dịch vụ.
Sau đây là một số khái niệm: Theo luật giá năm 2013 : “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật.TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo (phi vật chất) nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và tạo ra sự khác biệt, nâng cao vị thế của danh tiếng sản phẩm dịch vụ; Và làm đa dạng hóa, phong phú hóa, khác biệt hóa, nổi trội hóa,.mà cao nhất là trở thành những thương hiệu mạnh; Đồng thời, hình thành những nét văn hoá kinh doanh và tạo ra sự hài lòng cao cho người tiêu dùng, để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó”. Tóm lại, dịch vụ là một hoạt động nhằm đáp ứng và làm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người tiêu dùng.
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thị Thanh Nga 1. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ tiệc cưới là một trong những loại hình kinh doanh tiêu biểu về dịch vụ. Vì vậy, nó cũng có đầy đủ các đặc điểm của một dịch vụ.
- Tính vô hình Hàng hoá có hình dáng, kích thước, màu sắc và thậm chí cả mùi vị. Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không. Ngược lại, dịch vụ tiệc cưới mang tính vô hình, không có “mẫu” và “dùng thử” làm cho các giác quan của khách hàng khó đánh giá được lợi ích trước khi mua dịch vụ. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ mà nhà hàng, khách sạn cung cấp thì khách hàng mới có thể cảm nhận được và đánh giá một cách đúng đắn nhất.
- Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ Quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với dịch vụ tiệc cưới, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch. - Tính không đồng đều về chất lượng Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá.
Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ tiệc cưới lại chịu tác động mạnh bởi cách thức, kỹ năng, thái độ của người phục vụ. Sức khoẻ, sự nhiệt tình của nhân viên phục vụ tiệc cưới vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau. Do vậy, khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ tiệc cưới ngay trong một ngày.
Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ tiệc cưới hoàn hảo hay yếu kém rất khó xác định dựa vào một thước đo tiêu chuẩn mà phải xét đến các yếu tố liên quan khác trong từng trường hợp cụ thể. - Tính không dự trữ được Dịch vụ tiệc cưới tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, dịch vụ tiệc cưới không thể sản xuất hàng loạt để cất trữ, lưu kho và đem ra bán như hàng hóa khác.
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thị Thanh Nga - Tính không chuyển quyền sở hữu được Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Khi mua dịch vụ tiệc cưới thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ tiệc cưới mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Chất lượng dịch vụ Trên thực tế, có rất nhiều định nghĩa về chất lượng, một số định nghĩa về chất lượng mà ta thường gặp là: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”.
(European Organization for Quality Control) “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”. Crosby) “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn”. (ISO 8402) (thực thể trong định nghĩa trên được hiểu là sản phẩm theo nghĩa rộng) Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Chất lượng dịch vụ là một phạm trù hết sức trừu tượng, phức tạp và khó định nghĩa, do vậy có nhiều cách hiểu cách nhau.
Nhưng nhìn chung các tác giả thường đứng trên lập trường và quan điểm của người tiêu dùng dịch vụ để đánh giá. Parasuraman và cộng sự được xem là những người tiên phong nghiên cứu chất lượng dịch vụ. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”. Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1985 bởi Parasuraman, Zeithaml và Berry.
Trọng tâm của mô hình này là khoảng cách hay sự chênh lệch (GAP) giữa sự kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ của nhà cung cấp. Mục tiêu của kinh doanh dịch vụ là thu hẹp các khoảng cách SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thị Thanh Nga đến mức nhỏ nhất có thể và điều đó đã tạo ra nhiều thách thức đối với nhà cung cấp khi muốn nâng cao chất lượng dịch vụ của mình.1: Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ (Nguồn: Parasuraman và cộng sự, 1985) Khoảng cách 1 (GAP 1): Khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của nhà hàng cung cấp dịch vụ về kì vọng đó. Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất để hiểu một cách chính xác khách hàng đang mong đợi những gì trong việc cung cấp dịch vụ tiệc cưới có chất lượng đối với một nhà hàng.
Kết quả cho thấy không phải lúc nào nhà quản lý cũng hiểu rõ nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ, những đặc điểm tạo nên chất lượng dịch vụ cũng như những yếu tố gì phải có để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và cấp độ thực hiện ra sao để có dịch vụ chất lượng. Sự thiếu nhận thức này có thể ảnh hưởng đến nhận định về chất lượng của khách hàng. SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thị Thanh Nga Khoảng cách 2 (GAP 2): Khoảng cách giữa nhận thức của nhà hàng về kỳ vọng của khách hàng và sự chuyển đổi cảm nhận của nhà hàng thành tiêu chí chất lượng.
Khoảng cách này tồn tại vì nhà quản lý có thể hiểu được mong muốn của khách hàng, nhưng đôi khi nhà quản lý không thể lấy thông tin đó để đưa ra các tiêu chí chất lượng dịch vụ cụ thể. Ví dụ nhà quản lý mong muốn phục vụ món ăn tại bàn chậm nhất là 10 phút sau khi khách hàng vừa kết thúc món ăn trước đó (nhanh nhất trong điều kiện có thể), nhưng cũng biết rằng khách hàng mong muốn chỉ trong vòng 5 phút phải có đồ ăn ngay. Điều này có nghĩa là nhà quản lý đã nhận ra điều khách hàng mong muốn, nhưng đôi khi không thể đáp ứng được. Khoảng cách 3 (GAP 3): Khoảng cách giữa các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ được thiết lập của nhà hàng với việc cung cấp dịch vụ.
Khi nhà quản lý nhận ra được sự mong muốn của khách hàng, đã thiết kế ra tiêu chuẩn dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của khách hàng (quy định thời gian phục vụ nhanh như khách hàng mong đợi), nhưng trong quá trình thực hiện không phải lúc nào tất cả nhân viên đều hoàn thành và chuyển giao dịch vụ theo đúng các tiêu chuẩn đã được đề ra. Do vậy, nhân viên phục vụ trực tiếp tại nhà hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra chất lượng dịch vụ. Quảng cáo trên thông tin đại chúng và các mối quan hệ giao tiếp khác của nhà hàng có thể làm tăng kỳ vọng nhưng cũng có thể làm giảm chất lượng dịch vụ cảm nhận từ phía khách hàng không nhận đúng những gì mà nhà hàng cam kết. Nếu kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong nhận định về chất lượng dịch vụ của khách hàng, thì nhà hàng cần phải chắc chắn là không nên hứa hẹn trên quảng cáo nhiều hơn thực tế có thể cung cấp vì sẽ tạo ra một sự kỳ vọng cao nơi khách hàng.