CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH 1.1 Tổng quan về chất lượng dịch vụ 1.1 Khái niệm về dịch vụ Theo điều 4 – Luật Giá năm 2012: “dịch vụ” là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Theo Luật Thương Mại năm 2005: “cung ứng dịch vụ” là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Theo Wikipedia: “dịch vụ” được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. Khái niệm “dịch vụ” được đề cập đến trong Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội như sau: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển". Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý. Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau.
Tóm lại, “dịch vụ” là những hoạt động tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể hình thái vật thể nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt con người. Luan van 5 Dịch vụ bao gồm ba bộ phận hợp thành, đó là: - Dịch vụ căn bản là hoạt động thực hiện mục đích chính, chức năng, nhiệm vụ chính của dịch vụ. - Dịch vụ hỗ trợ là hoạt động tạo điều kiện thực hiện tốt dịch vụ cơ bản và làm tăng giá trị của dịch vụ cơ bản. - Dịch vụ toàn bộ: bao gồm dịch vụ căn bản và dịch vụ hỗ trợ.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ thuần tuý có đặc trừng phân biệt so với hàng hoá thuần tuý, cụ thể đó là các đặc điểm sau: a/ Tính vô hình - Khái niệm: Tính vô hình được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ.
- Tác động của tính vô hình đến khách hàng: • Khách hàng khó hình dung ra dịch vụ • Khách hàng khó thử trước khi mua • Khách hàng khó đánh giá chất lượng • Có thể thông qua thương hiệu, giá cả để đánh giá chất lượng dịch vụ • Tìm kiếm tư vấn của người quen, người bán hàng - Tác động của tính vô hình đến doanh nghiệp: • Dịch vụ không thể cấp bằng sáng chế • Dịch vụ không thể trưng bày b/ Tính không thể tách rời - Khái niệm: Dịch vụ thường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác với hàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, rồi sau đó mới dến tay người tiêu dùng cuối cùng. - Tác động của tính không thể tách rời đến khách hàng: • Khách hàng phải có mặt để hưởng thụ dịch vụ • Khách hàng phải đến địa điểm cung cấp dịch vụ • Chịu ảnh hưởng bởi quá trình cung cấp dịch vụ, thái độ của người cung cấp dịch vụ, và môi trường nơi xảy ra quá trình cung cấp. Luan van 6 - Tác động của tính không thể tách rời đến doanh nghiệp dịch vụ: • Khó đạt được tính kinh tế theo quy mô • Khó đạt được sự đồng đều về chất lượng (phụ thuộc vào nhân viên cung cấp dịch vụ) • Khó cân bằng giữa cung và cầu dịch vụ • Mối quan hệ giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ. c/ Tính không đồng nhất - Khái niệm: Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá.
Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ. Do vậy, khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ ngay trong một doanh nghiệp. Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng. Để khắc phục nhược điểm này, doanh nghiệp có thể thực hiện cơ giới hoá, tự động hoá trong khâu cung cấp dịch vụ, đồng thời có chính sách quản lý nhân sự đặc thù đối với các nhân viên cung cấp dịch vụ.
Hơn nữa, không phải bất kỳ dịch vụ nào cũng có thể tự động hoá quá trình cung cấp được. - Tác động của tính không đồng nhất đến khách hàng: • Chất lượng của cùng một dịch vụ cung cấp đến khách hàng có thể không đồng đều • Khách hàng sẽ khó lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ - Tác động của tính không đồng nhất đến doanh nghiệp dịch vụ: • Việc cung ứng dịch vụ & thỏa mãn khách hàng tùy thuộc nhiều vào hoạt động của nhân viên • Chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào các yếu tố không kiểm soát được. • Khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất d/ Tính không thể dự trữ - Khái niệm: Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời. Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cất trữ Luan van 7 khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo.
Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. - Tác động của tính không thể dự trữ đến khách hàng: • Một số loại hình dịch vụ theo thời vụ hoặc không thường xuyên sẽ có giá cao hơn => Khách hàng tốn chi phí tiêu dùng hơn. - Tác động của tính không thể dự trữ đến doanh nghiệp dịch vụ: • Cung & Cầu dịch vụ khó cân đối, thường mất cân bằng giữa các thời điểm khác nhau. • Doanh nghiệp cần tổ chức hệ thống phân phối hợp lí để có thể phục vụ nhu cầu của khách hàng, tránh trường hợp khi khách hàng cần thì không có và khi thì có quá nhiều nhà cung cấp.
e/ Tính không chuyển quyền sở hữu được - Khái niệm: Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ và được hưởng lợi ích mà dịch vụ đó mang lại trong một thời gian nhất định. - Tác động của tính không chuyển quyền sở hữu được đến khách hàng: • Dịch vụ đã mua không thể đổi trả, thu hồi hay bán lại - Tác động của tính không chuyển quyền sở hữu được đến doanh nghiệp dịch vụ: • Ảnh hưởng đến chính sách phân phối trong marketing của doanh nghiệp dịch vụ: người bán buôn, bán lẻ cũng không được chuyển quyền sở hữu.3 Bản chất của dịch vụ - Dịch vụ chính là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. - Dịch vụ gắn liền với hiệu suất/thành tích bởi mỗi dịch vụ đều có mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng. - Hiệu suất ở đây chính là những tiện ích, giá trị và giá trị gia tăng mà người tiêu dùng sẽ nhận được thông qua việc sử dụng dịch vụ.4 Sự khác nhau giữa hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động dịch vụ Luan van 8 Bảng 1.1: Bảng so sánh sự khác nhau giữa hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động dịch vụ STT Đặc điểm Sản xuất vật chất Dịch vụ 1 Đặc tính đầu vào Không bao gồm khách Bao gồm khách hàng hàng 2 Đặc tính đầu ra Hữu hình Vô hình 3 Mối quan hệ tiếp Qua trung gian phân phối Phân phối trực tiếp xúc khách hàng 4 Thời điểm sử dụng Sản xuất → Phân phối Rao bán/quảng cáo → sản phẩm/dịch vụ →Tiêu thụ Sản xuất Tiêu thụ/sử dụng 5 Khả năng đo lường, Thiết kế các tiêu chuẩn Rất khó để xây dựng một đánh giá định tính để đo lường tiêu chuẩn đo lường nhất chính xác chất lượng sản định phẩm 6 Khả năng lưu trữ Có thể lưu trữ ( tổn kho ) Không thể lưu trữ (Nguồn: TS.Trương Đức Lực, 2013) Từ bảng so sánh trên, rút ra đánh giá về vị trí và vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế như sau: a/ Vị trí của dịch vụ trong nền kinh tế Dưới đây là biêu đồ so sánh tỷ trọng các ngành đóng góp vào GDP Việt Nam từ 2016 – 2018: Luan van 9 Biểu đồ 1.1: GDP Việt Nam trong 3 năm từ 2016 – 2018 ( đơn vị %) 100 90 80 70 60 50 40.98 10 0 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Nông - Lâm - Thuỷ sản Công nghiệp - Xây dựng Dịch vụ Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm (Nguồn : Tổng cục thống kê) Vvị trí quan trọng của ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế là: - Tại Việt Nam ngành dịch vụ hiện đóng góp trên 40% GDP cả nước và cũng là ngành dẫn đầu về tỷ trọng đóng góp vào GDP quốc gia.
- Cần hiểu rõ vai trò, vị trí của ngành Dịch vụ trong thúc đẩy phát triển kinh tế và tạo ra giá trị gia tăng để có những định hướng phát triển bền vững cho nền kình tế. Theo đó, cần xác định phát triển dịch vụ có vai trò quan trọng, không chỉ trực tiếp tạo động lực phát triển, mà còn tạo lập và củng cố sự liên kết, bảo đảm đầu ra cho các ngành công - nông nghiệp và tác động lan tỏa trong toàn bộ nền kinh tế. - Sự phát triển của dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. rình độ phát triển kinh tế của một nước càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ - thương mại trong cơ cấu ngành kinh tế càng lớn.