Chương 1. MỘT SO VAN DE CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CHAT LƯỢNG DÂN SO 1. Một số khái niệm liên quan đến dân số, chất lượng dân số 1. Dân số Dan cư của một vùng lả tập hợp những con người củng cư trú trên một lãnh thé nhất định (xã, huyện, tỉnh, quốc gia, châu lục hay toản bộ trái dat), Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cửu ở góc độ: quy mô, cơ cau và chất lượng.
Quy mô, cơ cau dân số trên một lãnh thé không ngừng biển động do có người được sinh ra, có người bị chải, có người di cu đến và có người di cư đi, hoặc đơn giản chỉ là theo năm thang, bat cứ ai cũng chuyển từ nhóm tuổi nay sang nhóm tuổi khác. Như vậy, nói đến dân số lả nói đến quy mô, cơ cấu, chất lượng va những yếu tổ gây nên sự biến động của chúng như sinh, chết va di cư. Vi vậy, dân số thường được nghiên cứu cả ứ trang thái tĩnh lẫn trạng thái động. Nghiên cửu dân số ở trạng thai tĩnh là nghiên cứu trạng thai dân cư tại một thời điểm (thời điểm điều tra, hoặc tông điều tra đân số] về số lượng, phân bổ, cơ cầu dan số theo mỗi hay nhiều tiêu thức như tuổi, giới tinh, tình trạng hôn nhân, trình độ học vẫn, nghẻ nghiệp.
Nghiên cứu dan số ở trang thai động lả nghiên cửu ba dang vận động của dẫn cư bao gồm vận động tự nhiên thông qua sinh vả chết, vận động cơ học tức là đi và đến va vận động xã hội bao gồm những tiến triển về học vẫn, ngh nghiệp, mức sống, hôn nhân. Chất lượng dân số LL21. Khái niệm chất lượng dân số Khái niệm CLDS xuất hiện từ thể ky XVIII, khi các nha khoa học sử dụng các kiến thức sinh học về quan thé cho việc nghiên cửu quan thé con người. Lúc đỏ, CLDS chi den giản được coi là gen của quan thé.
Điển hình là vào cudi thé ky XIX, thuyết chủng tộc xuất hiện. Nội dung cơ ban của thuyết nảy lả chủng tộc “thượng đăng” va ching tộc “ha đăng”. Điều nảy dựa trên cơ sở tự nhiên mang tinh di truyền va bat bien. Vi vậy, bất bình đăng xã hội cũng có cơ sở tự nhiên, Đổi với sự nghiệp phát triển văn hỏa, tạo dựng văn minh, chủng tộc “thượng đăng” đi trước, là “dau tau”, còn chủng tộc “ha đăng” không lam được việc đó, GVHD: Th.S Huỳnh Phẩm Dũng Phát SVTH: Nguyễn Thị Thanh Nga Trang 9 hoặc nêu có rat it.
Vi vậy, học thuyết nảy kết luận phải giữ gin sự thuần chúng va tăng quy mé của chủng tộc "thượng đăng”, nêu chủng tộc "thượng ding” sinh đẻ ít và chủng tộc “ha đăng” sinh đẻ nhiều sẽ lam xấu đi cơ cau dân số vẻ mat chất lượng. Nhưng qua kết quả của các nghiên cửu các nha khoa học đã khang định là không tim thay bat ki sự khác nhau nao trong bộ não của các chúng tộc. Khả năng vả tn thức của mỗi con người có được lả nhờ quá trình chăm sóc, giáo dục vả hoạt động cụ thể. Ang-ghen sau đó cho răng “CLDS Ia kha năng của con người thực thi các hoạt động một cách hiệu quả nhất".
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất và nội dụng của CLDS xuất phát từ các quá trình vả quan hệ xã hội, được hình thành thông qua quả trình chăm sóc, nudi dưỡng, giáo dục va dao tạo phat triển nguồn lực con người. Tuy nhiên, các nha nhân khẩu học Nga trong cuỗn “Giáo trình Dân số học” do nha xuất bản thông ké va tải chính Mat-xco-va 4n hành năm 1985 lại cho rằng "Những nghiên cứu tinh tế nhất không tim thay sự khác nhau nào trong bộ não người giữa các chủng tộc. Kha năng vả tri thức của con người có được nhờ qua trình chăm sóc, giao dục va các hoạt động cụ thể khác”. Các nha nhân khẩu học Nga quan điểm CLDS là "Khái niệm trung tâm của hệ thong tri thức của dan số” được phản ánh bởi các chỉ tiêu: trình độ gido dục, cơ cầu nghề nghiệp, x4 hội va tính năng động của tình trang sức khỏe.
CLDS hình thành nhờ chăm sóc y tế, giáo dục và đảo tạo nghẻ cũng như các hoạt động cụ thể khác như văn hóa thể thao, du lịch. Nó tương ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, Ở Việt Nam, CLDS cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Dinh Cử cho rằng CLDS bao gồm: quy mé dân số hợp lý, cơ cau tuổi giới tinh can đổi, kha nang hoạt động có hiệu quả. Trong khi đó, tác giả Vũ Văn Toán cho ring : CLDS bao gồm các yếu tô như thé lực, tri lực và mức sống của dân cư. Còn tác giả Trân Thị Tuyết Mai còn xem CLDS ngoài thé lực, tri lực còn có kỹ năng, phong cách, đạo đức, tinh than của từng con người tạo nên cộng dong [20].
Phải nói rằng cho đến nay, chưa có một khai niệm chung về CLDS, mặc di đã có khá nhiều nghiên cứu vẻ van dé CLDS trong những năm gan đây. Theo từ điển Bách Khoa của Việt Nam xuất bản năm 1995, “Chat lượng” là phạm tri triết học biểu thị những bản chất của sự vật, chỉ rõ nó la cái gi, tinh Gn định tương đổi của sự vật, phan biệt nó với các sự vật khác, Như vậy “CLDS phải được biểu thị bằng các thuộc GVHD: Th.S Huỳnh Phẩm Dũng Phát SVTH: Nguyễn Thị Thanh Nga Trang 10 —— _“—.Ồ_—_ “aäẽaIIaRammmmmmm=mmmel tinh bản chat của dân số”. tổng hợp lại dé có thé 1a các thuộc tinh ve thẻ lực, trí lực, năng lực xã hội vả tính nang động xã hội. CLDS ham chứa một hệ thong các đặc trưng của dan số: trình độ học van, cơ cau nghề nghiệp, cơ cau xã hội, tinh năng động, tỉnh trạng sức khoẻ và các đặc trưng khác của dan số.
Moi một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ tương ứng với một mức độ CLDS nhất định. Như vậy, CLDS được phản ảnh thông qua các thuộc tinh cụ thể liên quan đến tinh trạng tam vóc, thé lực, sức khoẻ sinh sản, trình độ học van, trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật, cơ cầu va kỹ năng nghé nghiệp, đời song vat chat va các dich vụ xã hội cơ bản, đời song tinh than và các van de văn hoá thông tin, gan kết cộng đồng va an ninh xã hội. Pháp lệnh dân sô Việt Nam năm 2003 đã định nghĩa: “CLDS phản ánh các đặc trưng về thé chat, trí tuệ va tinh than của toàn bộ dân số” [44]. CLDS được xây dựng trên nhiều thành phan khác nhau, bao hàm: Thể chất gồm nhiều yeu tổ khác nhau trong đó có các số do ve chiều cao, can nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bên, sự khéo léo,., dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ, các yeu tổ giống noi, gen di truyền (như tật nguyễn bam sinh, thiểu năng tri tuệ, nhiễm chất độc hóa học, chất độc mau da cam.) của người dan.
Trí tuệ gom các yếu to trình độ học vẫn, thảm mỹ, trình độ CMKT, co cau nganh nghẻ. thể hiện qua ty lệ biết chữ, số năm bình quân đi học/đầu người, tỷ lệ người có bằng cấp, được dao tạo về CMKT. Tinh thần gồm các yêu tổ vẻ ý thức va tính năng động xã hội thé hiện qua mức độ tiếp cận vả tham gia các hoạt động xã hou, van hoá, thông tin, vui chơi, giải trí. của người dan.
Như vay, CLDS là một phạm trù rộng, được hiểu là tổng thé các thành tô tạo nên thé lực, tri lực va tinh than của con người nói chung. Một dan số cụ thé, dân số của mỗi nước hoặc mỗi vùng và vao những thời ky nhất định sẽ có một chất lượng nhất định. CLDS được nhin nhận liên quan biện chứng đến số lượng dan, CLDS bao ham chất lượng người từ lúc mới sinh cho đến khi chết, cả nam va nữ, CLDS không chỉ được đánh gia ve nhãn trắc học (chiều cao, căn nặng, các số do cơ bản về vòng ngực, bụng, tay, chân, sự cân di của cơ thê với từng lửa tudi.), tổ chất, sức chịu đựng dẻo dai. ma còn được nhìn nhận thông qua cuộc sông tinh than, con người quan hệ với nhau như thé nao, họ có cơ hội bình đăng không trước sự lựa chọn việc lam, giao dục, phúc lợi, hôn nhãn gia dinh., có được tồn trọng va tự GVHD: Th.S Huỳnh Phẩm Dũng Phát SVTH: Nguyễn Thị Thanh Nga Trang 11 do ca nhãn không, họ có mỗi trường dé phat huy kha năng sáng tạo hay không trong thực te.
CLDS bao ham các khái niệm vẻ chất lượng nguồn nhân lực, khái niệm chất lượng lao động. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học đã nêu ra van đẻ là nêu nói về CLDS ma không dé cập đến quy mé, phân bố vả cơ cầu dân số là chưa day đủ. Vậy, như thé nao mới là một khái niệm CLDS hoàn chỉnh? Trong khuôn khô dé tải nay, tác giả đã xác định khải niệm CLDS như sau “CLDS 1a tập hợp những đặc điểm vẻ năng lực của một quan cư, một cộng đồng, một đất nước được thé hiện qua hệ thống các chi báo: thé lực, trí lực, mức sống, cơ cau tuổi, ý thức xã hội. trong việc thực hiện những chức năng xã hội nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của toản bộ dân số nói chung vả sự phát triển của chỉnh bản thân mỗi gia đình, mỗi người dân nói riêng.
Các tiêu chi đánh giá CLDS + Các tiêu chi đánh giá CLDS CLDS 1a một van để phức tạp, khỏ có một tiêu chi cụ thé nào mang tính tổng hợp dé đo lường và so sánh. Trong khuôn khổ dé tai đã dựa vao một số tiêu chí: 1) Thu nhập bình quân dau người (TNBQĐN); 2) Tuổi thọ; 3) Sức khỏe và dinh dưỡng; 4) Giáo dục; 5) Lao động - việc làm; 6) Tinh than, đời song văn hóa vả 7) Nhân khẩu học. TNBQDN Thu nhập lả một phương tiện rất quan trong dé mở rộng sự lựa chọn của con người. Thu nhập có tam quan trọng nhất định trong việc quyết định khả năng con người sử dụng các nguồn lực cần thiết dé tiếp cận được với nhu cầu thiết yếu va mang đến nhiều lựa chọn hơn.
TNHQĐN là một chi tiêu khái quát, một phạm trù kính tế học phản ánh trình độ phat triển kinh tế - xã hội của một nước trong một năm nao đó. Nó được xác định bằng tổng số sản phẩm của một quốc gia làm ra trong một năm chia cho tổng dan số của quốc gia đó.