Chương 1. Tình hình tiêm chủng mở rộng trẽn thê giới Từ nhũng năm 1960 tiêm chúng phòng bệnh cho trẻ em đã trở thành công việc thường xuyên của y tế các nước phát triển. Nhờ kết quá tiêm chủng (TC ) phòng bệnh mà tỷ lệ trẻ em mắc và chết do các bệnh được TC đã giảm rõ rệt. Tý lệ trẻ em mắc các bệnh do không đượcTC ở các nước nghèo và kém phát triển rất cao.
Tỷ lệ tử vong ở đối tượng này do mắc các bệnh đó cũng góp phấn râ't lớn vào tỷ lệ tử vong chung của các nước. Trước tình hình ấy năm 1974 tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra chương trình tiêm chủng mớ rộng (TCMR) cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 1 tuổi trên toàn thế giới. Với mục tiêu của chương trình là làm giảm tỷ lệ mắc và chết trẻ em đối với 6 bệnh: lao, bạch hầu, ho gà, bại liệt, uốn ván, sởi (I) Trong tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 của WHO, chương trình TCMR cũng nằm trong kếhocạch chăm sóc sức khoẻ ban đâu (CSSKBĐ) theo phương châm”sức khoẻ cho mọi người năm 2000” (14) Chương trình TCMR được coi là một chương trình trọng diêm nhất, là biện pháp quan trọng thực hiện quan điểm y học dự phòng. Nhờ chương trình này mà ngành y tế các nước đã nhanh chóng thanh toán hoặc làm giám đáng kê’ tỷ lệ mắc và chết trẻ em đối với 6 bệnh đó.
Ví dụ: Bệnh bạch hầiưChâu Âu năm I960 có 43.000 trường hợp mắc bệnh nhưng nhờTC đấu năm 1972 chỉ còn 3.000 trường hợp. Ớ Singapore tiêm vacxin phòng bạch hầu từ năm 1965, sau 8 năm đã thanh toán xong bệnh này. Bệnh ho gà có thê thanh toán được nếu TC đạt 90% trong vòng 10 năm, hoặc kéo dài 30 năm nếu TC đạt 70%.000 trẻ em mắc bệnh ho gà, đến đầu năm 1962 chi còn có 10.000 trẻ em mắc bênh. 13 Bệnh uốn ván sơ sinh (UVSS):Ớ các nước như Liên xô (cũ), Mỹ, các nước Đông Âu nhờ tiêm phòng uốn ván có hệ thống nên tỷ lệ mắc chỉ từ 0,11/100.000 dân (22) Bệnh sởi:Đêh năm 1988 cộng hoà dân chủ Đức (cũ) đã thanh toán xong bệnh sởi cho tie em nhờ tiêm chủng vácxin sởi vào tháng tuổi thứ 9 cho trẻ t ừ nh ững năm 1967 (23) Bệnh bại liệt: Một sô' nước như Tiệp khắc (cũ), cộng hoà dân chủ Đ ức (cũ),Liên xô (cũ), Cu ba đã thanh toán được bệnh này từ những năm I960, ơ Mỹ cho đến năm 1975 chỉ còn 20 trường hợp bại liệt.
Những nước đang phát triển đã có trên 60% trẻ em được uống vacxin bại liệt 3 lần (24). Tình hình tiêm chủng mở rộng (’)■ Việt nam Công tác TC phòng bệnh được thực hiện ở Việt nam từ những năm cuối cùa thập kỷ 50, trước khi có chương trình TCMR của thế giới.Hàng năm triển khai TC phòng đậu mùa, tả, thương hàn, dịch hạch, bạch hầu với hình thức chủ yếu Là TC chiên dịch. Hưởng ứng nghị quyết của WHO về chương trình TCMR,tháng 10 năm 1980 nguyên Thú tướng chính phù Phạm Văn Đồng đã ký cam kết với WHO về tổ chức thực hiện TCMR phòng 6 bệnh cho trẻ em Việt nam. Quá trình triển khai gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn I:Giai đoạn làm thử 1980-1982 1980 làm thí điểm chương trình TCMR ở trạm y tế số 4 quận Hoàn kiêm và xã T ứ hi ệp huyện Thanh trì, Hà nội 1981-1982: Chương trình triển khai ra 12 tỉnh, thành với 52 quận huyộn,19l xã, phường trong toàn quốc Giai doạn 2:1983-1986:Trién khai trên 20 tỉnh, thành-177 quân huyện-3760 xã, phường.
Giai đoạn 3:1987-1990:Triên khai trên tOcàn quốc. Năm 1981-1985 cá nước mới tiêm đấy đủ cho 7% số tre em trong đối tượng. 14 Năm 1985-1988 các tỉnh, thành trong cả nước dần dần thực hi ện ch ưong trình này và đạt tý lệ tiêm chủng đấy đủ (TCĐĐ) cho 80% số trẻ em trong đối tượng. Năm 1997 đạt 95,38% tỷ lệ TCĐĐ.
Chúng ta đã đạt được mục tiêu để ra trong thời kỳ 1986-1990 là: Duy trì tỷ lệ TCMR đạt trên 80% cho trẻ em dưới 1 tuổi và hạ tỷ lệ mắc và chết do 6 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong diện TC so với thời kỳ 1876-1980,cụ thể là: (Tỷ lệ mắc/100.000 dân) Bênh: Tỷ lê mắc Bại liệt còn dưới 0,90 Uốn ván còn dưới 1,57 Bạch hầu còn dưới 1,81 Ho gà còn dưới 88,68 Sởi còn dưới 109,63 Từ năm 1990 đến nay, cả nước vẫn duy trì tỷ lệ TCMR đạt trên 90% và đang phấn dâu thực hiện các mục tiêu: Duy trì tiêm chúng đầy đủ cho trẻ em dưới I tuổi đạt trên 90% vào năm 2000. Thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 Loại trừ uvss vào năm 2000 Khống chế bệnh sởi giám số mắc và giám số chết do sói Các biện pháp chiến lược được áp dụng thực hiên là: Lấy đơn vị huyện đế chi đạo thực hiện các mục tiêu trên. Tiêm chúng thường xuyên hàng tháng, áp dụng cho các xã, phường dồng bằng, thành thị và trung du. Tiêm chúng định kỳ 2 hoặc 3 tháng 1 lần áp dụng cho các xã miên núi, các xã có giao thông khó khăn.
Tiêm chúng chiến dịch I năm 3 đợt vào nhũng tháng cuối năm, áp dụng cho các xã miền reo cao, biên giới, hái đáo (1) 15 Tổ chức những ngày TC toàn quốc (NNTCTQ) để cho tất cả trẻ em dưới 5 tuối u ống 2 liều vacxin bại liệt cách nhau 1 tháng, kết hợp cho uống vitamin A để phòng chống bệnh khô mắt và kết hợp TC vét vacxin sởi cho trẻ em 9-12 tháng tuổi ớ miền núi, tiêm vacxin AT cho phụ nữ có thai, phụ nữ lứa tuổi 1535. Các biện pháp này đã được áp dụng và đạt kết quâ tốt trong toàn quốc, nhất là các năm 1996-1997. Lịch tiêm chủng cho các đối tượng được thực hiện như sau: Trẻ em dưới 1 tuổi: Trẻ sơ sinh tiêm BCG Trẻ 2 tháng tuổi tiêm DPT|+OPV| Trẻ 3 tháng tuổi tiêm DPT2 +OPV2 Trẻ 4 tháng tuổi tiêm DPT3+OPV? 9-1 I tháng tuổi tiêm vãcxin sởi Trẻ em dưới 5 tuổi: Hàng năm uống 2 liều vacxin bại liệt vào tháng 1 Ivà 12 cách nhau ít nhất là 30 ngày. Phụ nữ có thai (PNCT): được tiêm 2 liều vacxin uốn ván.Liều 1 tiêm khi có thai, càng sớm càng tốt.
Liều 2 cách liều 1 ít nhất là 30 ngày và trước khi đẻ í( nhất là 15 ngày. Phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ) ( tuổi 15-35) ớ các huyện được quy định là có nguy cơ uvss cao được tiêm tối thiểu 2 liều vacxin AT. Cụ thể:Tiêm AT, lần đầu tiên khi tiếp xúc Tiêm AT2 cách AT| ít nhấtl tháng Tiêm AT3 cách AT2 ít nhất 6 tháng hoặc khi có thai Tiêm AT4 cách AT3 ít nhất 1 năm hoặc khi có thai Tiêm ATS cách AT4 ít nhất 1 năm hoặc khi có thai. Tiêm đủ 5 mũi sẽ có miễn dịch bảo vệ suốt đời.Kết quá triển khai chương trình TCMR tại tính Hoà bình và huyện Lương sơn 1992-1997 16 3.Kết quâ triển khai chương trình TCMR tại tỉnh Hoà bình 1992-1997 (20 ) Năm TCĐĐtrẻ em<l tuổi Tiêm TiêmUV2+PNTSĐ Trẻ em<5tuổi uôìig đủ UV2+PNCT liổu vx hại liêl trong chiến dịchNNTCTQ SL % SL % SL % SL % 1992 17158 80,02 1870 7,7 0 0 0 0 1993 19384 85,76 13080 57,9 5844 82 108219 95,8 1994 18414 84,08 16882 77,1 27147 100 109922 98,03 1995 17067 87,1 16148 82,41 0 0 100872 100 1996 17517 94,43 11250 90,26 23606 99,56 96148 100 1997 17445 92,17 15603 82,44 21756 95,66 92751 100 3.
Kết quá triển khai chương trình TCMR tại huyện Lương sơn 1992-1997 (21) Năm TCĐĐ trẻ em<l tuổi Tiêm UV2+PNCT. TiêmUV2+PNTSĐTrẻ em < 5 tuổi uống dủ liổu vx bại liột trong chiến dịchNNTCTQ SL % SL % SL % SL % 1992 1679 74,48 88 3,5 0 0 0 0 1993 1830 81,2 1038 46 0 0 10349 97,8 1994 1761 82,25 1415 66,09 0 0 10726 98,1 1995 1690 92,76 1324 72,76 0 0 9436 100 1996 1659 91,9 1500 87,57 0 0 9140 100 1997 1645 90,58 1499 82,54 0 0 8404 100 Huyện Lương sơn tính Hoà bình không phái là huyện điếm tiêm vacxin phòng uv cho phụ nữ tuổi sinh đẻ của tinh. Các quy định về báo cáo của chương trình tiêm chủng mở rộng 4. Chủng loại báo cáo hàng tháng tuyến xã phải thực hiện: Báo cáo kết quả tiêm chúng tre em.
Báo cáo 6 bệnh truyền nhiễm trẻ em. Báo cáo kết quá tiêm uv. Báo cáo tình hình uvss. Quy định về thời gian gửi báo cáo từ tuyến xã lên huyện: Hàng tháng sau khi tiến hành tiêm chủng, các xã phải gửi đủ 4 loại báo cáo TC trên đây về đội vệ sinh phòng dịch huyện trong khoáng thời gian từ 5-10 ngày.
Cụ thê’ tại huyện Lương sơn ngày tiêm chủng là 01 hàng tháng, ngày 08 hàng tháng giao ban của trung tâm y tô' với trạm trưởng y tê' các xã. Trạm trướng đem nộp TTYT báo cáo TC và các loại báo cáo khác c ủa c ơ s ở vào ngày đó. Đánh giá và giám sát chương trình tiêm chủng mờ rộng Đánh gía chương trình TCMR nhằm biết rõ tiến triển cứa chương trình, thê hiện bằng tỷ lệ tiêm chủng đạt được và hiệu lực của chương trình thể hiện ớ sự giám tý lệ mắc và chết của 6 bệnh, xác định những nguyên nhân khó khán trớ ngại cho chương trình từ đó điều chỉnh mục tiêu, sửa lại và bổ xung phương pháp tiến hành đê đạt được hiệu quà cao nhất. Giám sát là một phần của đánh giá giúp cho kiêm tra xem công việc có làm đúng trách nhi ệm không, các mục tiêu đề ra có thực hiện đúng được không.
Đánh giá và giám sát là bộ phận không thê tách rời được cùa ban quân lý chương trình ờ mọi cấp y tế, không thê quán lý tốt chương trình nếu không có đánh giá. Có nhiều phương pháp đánh giá, mỗi phương pháp có ưu điổm và nhược diêm của nó. Đánh giá dựa vào sô' liệu báo cáo thường xuyên của các cơ sở y tê. 18 - Thuận lợi: Cho biết nhanh và thường xuyên về tình hình tiêm ch ủng của tùng đ ịa ph ương và toàn quốc, biết được nhu cầu vacxin của từng địa phương tìr đó có được kế hoạch sản xuất và phân phối phù hợp, ngoài ra nó còn tiết kiệm được nhân lực và tài chính.
- Nhược điểm : Con số báo cáo thường khác so với thực tế do nhi ều nguyên nhân, có thê do cán bộ các cơ sở thường báo cáo những con số gần sát với kê hoạch đề ra hoặc sát với chỉ tiêu do cấp trên giao, mặt khác có thể do họ nhận thức về tầm quan trọng của BC và các chỉ số trong các mẫu BC chưa đây đủ. Đánh giá bằng cách nghiên cứu điều tra thực địa.