phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính của luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Đặc điểm và sự phân hóa CQ LVS Bung, tỉnh Quảng Nam. Định hƣớng không gian sử dụng CQ cho phát triển NLN và BVMT LVS Bung. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về cảnh quan 1. Quan niệm cảnh quan a. Quan niệm cảnh quan của các nhà khoa học Nga và Đông Âu CQ lần đầu tiên đƣợc sử dụng nhƣ một khái niệm khoa học vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX từ tiếng Đức là Landschaft, nghĩa là “phong cảnh”.
Sự ra đời của khoa học CQ xuất phát từ các công trình nghiên cứu về sự phân chia địa lí tự nhiên bề mặt Trái Đất của các nhà địa lí Nga nhƣ: Đocusaev V. Trong khoa học Địa lí Nga và Đông Âu, CQ vẫn đang đƣợc xem xét ở cả ba khía cạnh: Thứ nhất, xem CQ là những cá thể địa lí không lặp lại trong không gian, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng, thể hiện mối quan hệ tƣơng hỗ của các hợp phần tự nhiên trong một lãnh thổ nhất định, đƣợc đề cập trong công trình của Ixatsenko A. Thứ hai, xem CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, là sự phối hợp, thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên, nhƣ một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tƣơng đối đồng nhất, đƣợc xem xét không phụ thuộc vào phạm vi phân bố và có sự lặp lại trong không gian, đƣợc thể hiện trong công trình của Pôlƣnov B. Thứ ba, xem CQ là một khái niệm chung có thể dùng cho mọi đơn vị phân loại và phân vùng ở bất kỳ lãnh thổ nào, thể hiện trong nghiên cứu của Minkov F.
Trong đó, quan điểm cá thể và kiểu loại ảnh hƣởng lớn đến nghiên cứu CQ ở Việt Nam. Phần lớn các nghiên cứu địa lí của các nhà khoa học thuộc Viện Địa lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và Khoa Địa lý (Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã áp dụng quan điểm này để xây dựng nhiều bản đồ CQ ở các tỉ lệ nhƣ Nguyễn Thành Long, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần, Phạm Quang Anh, Nguyễn An Thịnh,. ở nhiều khu vực khác nhau trong cả nƣớc. Quan niệm cảnh quan của các nhà khoa học Tây Âu và Bắc Mỹ Các nhà khoa học Tây Âu và Bắc Mỹ nhấn mạnh CQ như phong cảnh, CQ nhân sinh hay CQ văn hóa.
Trong đó, CQ là phần không gian xung quanh có thể quan sát và cảm nhận đƣợc nên đƣợc áp dụng trong quy hoạch, kiến trúc CQ, du lịch; CQ nhân sinh nhấn mạnh vai trò của con ngƣời làm biến đổi và thành tạo CQ [36]. Theo trƣờng phái này, chủ yếu là các nhà sinh thái học và các nhà quy hoạch 6 đất đai. Do đó, khái niệm CQ đƣợc xây dựng theo hƣớng lấy sinh vật hoặc con ngƣời làm trung tâm, chú trọng nhiều tới đặc trƣng về hình thái CQ. Đại diện cho trƣờng phái này có Zonneveld I.
Xác định đất đai có ảnh hƣởng đến cấu trúc và chức năng CQ thông qua các hoạt động của con ngƣời [65], [138]. Đơn vị không gian cơ sở cho nghiên cứu STCQ theo các nhà CQ Tây Âu và Bắc Mỹ ƣu tiên lựa chọn là đơn vị địa lí (geographic unit), đơn vị đất đai (land unit), đơn vị CQ (landscape unit), hay đơn vị HST (ecosystem unit). Trong đó, STCQ đƣợc coi nhƣ một hệ thống "sinh thái - xã hội" phức tạp và đòi hỏi phải có tiếp cận liên ngành, tích hợp và đa quy mô nhằm đƣa ra các giải pháp hữu hiệu trong quản lý và sử dụng [48], [65]. Trƣờng phái Tây Âu và Mỹ đã ứng dụng các phần mềm tích hợp trong GIS để nghiên cứu cấu trúc hình thái CQ, phân tích tính đa dạng và đánh giá giá trị sử dụng của CQ,.
Các mô hình phân tích không gian trong các nghiên cứu thƣờng sử dụng các chỉ số CQ để định lƣợng và điều này không những giúp làm rõ các chức năng sinh thái mà còn phản ánh các chức năng KT-XH ảnh hƣởng đến CQ [110], [137], [138]. Ngoài ra, việc kết hợp dữ liệu viễn thám và các chỉ số CQ để phân tích sự biến đổi lớp phủ sẽ hỗ trợ ngƣời ra quyết định trong quy hoạch và lập kế hoạch đƣợc tốt hơn,. Tại Việt Nam, tiếp cận theo hƣớng này có các nhà khoa học điển hình nhƣ Phạm Quang Anh, Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Bắc Giang, thể hiện trong các nghiên cứu về cấu trúc STCQ Việt Nam; nghiên cứu CQ Việt - Lào trên cơ sở ứng dụng GIS và viễn thám; tích hợp viễn thám, GIS và phân tích fractal trong mô hình hóa biến đổi các CQ ở lãnh thổ Việt Nam [2], [21], [33], [65], [66],… 1. Hệ thống phân loại cảnh quan Các nhà Địa lí học Liên bang Nga phân loại CQ dựa vào tính địa đới và phi địa đới, nhƣ: Ixatsenko A.
- Hệ thống phân loại CQ của Gvozdexki N. - Hệ thống phân loại CQ của Ixatsenko A. (1969) gồm 8 bậc: nhóm kiểu kiểu phụ kiểu lớp phụ lớp loại phụ loại thể loại. Trong đó, kiểu CQ là đơn vị phân loại cao nhất, với những nét chung nhất về phát sinh và cấu trúc, cũng nhƣ tính chất của các quá trình địa lí cơ bản [37].
- Hệ thống phân loại CQ của Nikolaiev V. 7 Nhìn chung, những hệ thống phân loại trên cho thấy thứ tự cấp bậc không đồng nhất trong sơ đồ phân loại của các tác giả, có sơ đồ thì đặt cấp kiểu trên cấp lớp, đa số các sơ đồ đặt cấp lớp trên cấp kiểu. Ở Việt Nam, hệ thống phân loại CQ dựa trên quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới, có nghiên cứu của Vũ Tự Lập (1976), hệ thống phân loại CQ địa lí miền Bắc Việt Nam gồm 8 cấp: hệ lớp phụ lớp nhóm kiểu chủng loại thứ [38]. Mỗi một cấp tƣơng ứng với một chỉ tiêu hoặc một tập hợp các chỉ tiêu và có sự kết hợp giữa các cặp thành phần của CQ nhƣ nền nham, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhƣỡng và thảm thực vật.
Từ sau năm 1980 đến nay, có rất nhiều các tác giả nghiên cứu CQ của vùng lãnh thổ Việt Nam: Hệ thống phân loại cho bản đồ CQ Việt Nam trên các tỷ lệ đƣợc tác giả Nguyễn Thành Long và cs. (1993), trên cơ sở hệ thống phân loại của Nicolaev V. gồm 10 cấp: hệ CQ phụ hệ CQ lớp CQ phụ lớp CQ kiểu CQ phụ kiểu CQ hạng CQ loại CQ, ngoài ra còn các cấp bổ trợ theo các đơn vị cấu trúc hình thái là dạng, nhóm dạng địa lí, diện, nhóm diện địa lí [42]. Khi nghiên cứu CQ nhiệt đới gió mùa Việt Nam cho mục đích sử dụng hợp lý TNTN và BVMT, Phạm Hoàng Hải và cs.
Đây là hệ thống phân loại đƣợc nhiều tác giả công nhận và vận dụng để làm cơ sở nghiên cứu những nội dung nhƣ phân vùng CQ, đánh giá tổng hợp một phần hay toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Qua tổng quan tài liệu cho thấy, các tác giả đều sử dụng hệ thống phân loại các cấp từ hệ, phụ hệ, lớp, phụ lớp, kiểu, phụ kiểu, hạng, loại CQ và tùy theo lãnh thổ, tỉ lệ bản đồ, mục đích mà sử dụng một số cấp bổ trợ khác ở cấp thấp hoặc cấp phụ. Mỗi cấp có một chỉ tiêu cụ thể quy định sự phân hóa có tính hệ thống và logic. Đánh giá cảnh quan cho phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Trong những năm gần đây, nhiều hƣớng nghiên cứu và ĐGCQ đƣợc đƣa ra nhƣ: đánh giá mức độ thuận lợi của CQ, đánh giá kinh tế sinh thái, đánh giá hiệu quả kinh tế bằng phƣơng pháp sử dụng chi phí - lợi ích (Alfred Mashall và Zvoruvkin K.
1968), đánh giá ảnh hƣởng MT (Leopold, 1972; Hudson, 1984; Petermann T., 1996;…) hoặc tổ hợp giữa chúng (Shishenko P.G, 1988; Nguyễn Cao Huần, 1992). Cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu CQ là nền tảng cho sự phát triển hƣớng nghiên cứu CQ học ứng dụng. Tại Đức và Nga chủ yếu ứng dụng CQ vào việc quản lý các HST dựa trên phƣơng pháp phân tích, ĐGCQ, trƣờng phái này chú ý nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố trong CQ. Các nhà CQ học ở Pháp lại ứng dụng nghiên cứu CQ cho mục đích sử dụng và quy hoạch dựa trên các quá trình động lực phát sinh: 8 địa mạo động lực và phát sinh thổ nhƣỡng.
Hƣớng nghiên cứu này đã đƣợc 2 nhà CQ Cabaussel G. sử dụng để xây dựng phƣơng pháp phân kiểu CQ, mỗi kiểu CQ tƣơng ứng với một kiểu thích nghi của thảm thực vật tự nhiên hay nhân tác. Nổi bật trong hƣớng nghiên cứu này là công trình của Tricarst và Kilian với nghiên cứu cơ sở cho quy hoạch, giải quyết mối quan hệ giữa địa mạo động lực và phát sinh thổ nhƣỡng (dẫn theo [78]). Tại Việt Nam, hƣớng nghiên cứu CQ cho phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT nhƣ: Nguyễn Thế Thôn (1993) đã nghiên cứu và đánh giá cảnh quan cho việc quy hoạch và phát triển kinh tế cũng khẳng định CQ và các đơn vị lãnh thổ - dạng CQ, diện CQ là các đơn vị cơ sở và là đối tƣợng nghiên cứu của địa lý.
Khi đánh giá CQ cho quy hoạch phát triển kinh tế cần có thêm sự đánh giá định hƣớng kinh tế trên các vùng địa lý tự nhiên [67]. Nguyễn Cao Huần (2005) với công trình đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái) có giá trị đóng góp lớn với đào tạo và nghiên cứu địa lý theo hƣớng cơ bản và ứng dụng. Nghiên cứu này phát triển lý luận về phƣơng pháp ĐGCQ theo tiếp cận kinh tế sinh thái với các nội dung chủ yếu là đánh giá thích nghi sinh thái, đánh giá kinh tế, đánh giá mức độ bền vững về MT và xã hội, đánh giá thích hợp đối với các hoạt động sử dụng CQ, trong đó có NLN và BVMT [33].