CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO 1. Tổng quan tài liệu về năng lượng tái tạo 1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lượng tái tạo trên thế giới và Việt Nam NLTT là một nguồn năng lượng sạch và vô hạn, do đó rất nhiều quốc gia trên thế giới đang tận dụng NLTT để thay thế năng lượng truyền thống nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giảm hậu qua của biến đổi khí hậu. Việt Nam có thé học hỏi những kinh nghiệm từ thành tựu các quốc gia trên thế giới để áp dụng và phát triển NLTT trong nước.
Điều này được thể hiện trong các nghiên cứu của Trần Quang Minh [23] và Lưu Quốc Đạt và cộng sự [10]. Trần Quang Minh [23] đã đi sâu vào nghiên cứu chính sách phát triển NLTT ở Nhật Bản — là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thé giới và là nước tiêu thụ năng lượng đứng thứ năm thé giới. Do là một nước nghèo tài nguyên và phải nhập khẩu các nguyên liệu từ nước ngoài nên Nhật Bản rất chú trọng phát triển NLTT để đảm bảo an ninh năng lượng. Từ những kinh nghiệm của Nhật Bản, tác giả đã gợi ý những bai học kinh nghiệm mà Việt Nam có thé áp dụng trong phát triên NLTT cũng như xây dựng thị trường năng lượng công bang, minh bạch, cho vay vốn, ưu đãi thuế đề kích thích phát trién NLTT.
Lưu Quốc Đạt và cộng sự [10] đã đánh giá thực trạng và chính sách phát triển NLTT của Đức, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển NLTT như các chính sách về pháp lý, hình thành các thị trường NLTT, thành lập các quỹ NLTT. Tiềm năng phát triển NLTT ở Việt Nam được thê hiện trong các nghiên cứu của Dư Văn Toán [5], Nguyễn Hoàng Mai [65], Trần Thiên Cường và cộng sự [30] và Nguyễn Quốc Khánh [62]. Dư Văn Toán [5] trong nghiên cứu “Năng lượng tái tạo trên biển và định hướng phát triển tại Việt Nam” cho rằng Việt Nam có tiềm năng phát triển điện gió lên tới 3000 GW, do đó thị trường công nghệ điện trên biển ở Việt Nam cũng có nhiều cơ hội dé phát triển. Nguyễn Hoàng Mai [65] cho rằng tiềm năng khai thác năng lượng mặt trời ở Việt Nam là rất lớn.
Tuy nhiên, việc ứng dụng năng lượng mặt trời ở Việt Nam vẫn chưa phát triển, nguyên nhân là do chưa có nhiều nghiên cứu cụ thê về tiềm năng năng lượng mặt trời cũng như khả năng đầu tư xây dựng các dự án điện mặt trời. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, quảng bá dé cong déng hiểu rõ hơn về hiệu quả kinh tế cũng như lợi ích phát triển môi trường của năng lượng mặt trời vẫn còn hạn chế và chưa được đề cập trong các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam. Trần Thiên Cường và cộng sự [30] đã điều tra tiềm năng của rơm rạ làm nguồn năng lượng cho các nhà máy điện quy mô địa phương ở Việt Nam. Kết quả cho thay Việt Nam có thê sản xuất 2565 MW từ rơm rạ, trong đó 24/63 tỉnh có công suất tiềm năng cao hơn 30 MW và Kiên Giang có công suất cao nhất (245 MW).
Nguyễn Quốc Khánh [62] ước tính tiềm năng kỹ thuật của năng lượng gió ở Việt Nam và thảo luận các chiến lược thúc đây sự thâm nhập thị trường của năng lượng gió trong nước. Kết qua cho thay Việt Nam có tiềm năng tốt về năng lượng gió. Khoảng 31 000 km? diện tích đất có thé có san dé phát triển gió, trong đó 865 km? tương đương với năng lượng gió 3572 MW có chi phí phát điện dưới 6 US cent / kWh. Nghiên cứu cũng chứng minh rang năng lượng gió có thé là một giải pháp tốt cho khoảng 300 000 hộ gia đình nông thôn chưa có điện.
Trong khi năng lượng gió mang lại lợi ích về sinh thái, kinh tế và xã hội, nó mới chỉ được khai thác ở mức khiêm tốn ở Việt Nam, nơi mà rào cản chính là thiếu động lực chính trị và khuôn khổ thích hợp đề thúc đây NLTT. Do đó, nhiệm vụ ưu tiên là đặt ra mục tiêu phát triển NLTT và tìm ra các công cụ dé đạt được mục tiêu đó. Các công cụ chính được đề xuất ở đây là thiết lập biểu giá đầu vào và cung cap các ưu đãi dau tư. Bên cạnh tiềm năng lớn để phát triển NLTT, Việt Nam cũng phải đối mặt với một số thách thức.
Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Tiến [63] cho thay Việt Nam chưa có thị trường cho NLTT và các hoạt động phát triển công nghệ NLTT còn rời rạc và chưa đồng bộ. Nguyên nhân chính của tình trạng này là hầu hết các công nghệ NLTT thường quá đắt, vận hành và bảo dưỡng tương đối phức tạp, trong khi chúng thường được áp dụng cho các vùng nông thôn, miễn núi xa lưới điện quốc gia, trong đó phần lớn các dân cư nông thôn sống với thu nhập rất thấp và trình độ dân trí thấp. Đặc biệt, do khả năng sinh lời thấp nên sức hấp dẫn của các dự án NLTT thấp hơn nhiều so với các dự án năng lượng thương mại (điện lưới quốc gia, sản phâm dầu và than). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng Việt Nam đang thiếu cơ sở thé chế và chính sách thiết thực dé tập trung vào phát triển NLTT trong khuôn khổ chính sách năng lượng quốc gia, thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng và các quy định làm cơ sở cho việc điều tra, thăm đò, khảo sát, khai thác và sử dụng các nguồn NLTT, thiếu cơ chế tài chính hiệu qua dé cho phép các hộ gia đình nông thôn và miền núi, các nhà dau tư, hợp tác xã hoặc chính quyền địa phương nhận các khoản đầu tư ban đầu vào NLTT đưới hình thức tín dụng được trợ cấp hoặc các khoản vay ưu đãi thích hợp, dé giúp họ vượt qua chi phí ban đầu lớn của việc phát trién công nghệ NLTT, ứng dung và đối phó với các rủi ro.
Duy Nông và cộng sự [64] cho rằng mặc dù Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dao dé phát triển điện tái tạo, tuy nhiên đất nước vẫn thiếu năng lực tài chính, công nghệ tiên tiến và nguồn nhân lực dé phát triển nhanh chóng NLTT. Các rào cản về thé chế, chăng hạn như cơ chế kiểm soát thị trường và các chính sách hỗ trợ không én định, cũng hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực điện tái tạo. Mạng lưới truyền tải và phân phối hiện nay chưa tương thích với việc xây dựng nhà máy điện, dẫn đến rủi ro cao cho nha đầu tư. Do hạn chế về tài chính và công nghệ, Việt Nam van cần phát triển mạnh điện đốt nhiên liệu cùng với NLTT.
Do đó, mặc dù các chính sách va kế hoạch năng lượng được đặt ra theo hướng sản xuất sạch hơn, nhưng tiễn độ sẽ rất chậm. Việt Nam có thé cần sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các tổ chức quốc tế và chính phủ dé phát triển tốt hơn năng lực tài chính, nguồn nhân lực chất lượng và công nghệ tiên tiến dé chuyển đổi nhanh hơn sang nền kinh tế các-bon thấp. Một chính sách năng lượng tốt hơn va mạnh mẽ hơn cũng cần được tạo điều kiện để có thể đạt được các mục tiêu về điện với chỉ phí thấp hơn cho quốc gia nhằm giải phóng mức phát thải thấp. Tổng quan các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ năng lượng tái tạo Marques và cộng sự [60] phân tích các yếu tô ảnh hưởng tới NLTT ở Liên minh Châu Âu (EU) bằng phương pháp FEVD trên bộ dữ liệu từ 1990-2006.
Nghiên cứu tập trung vào các yếu tô chính trị, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến NLTT trong từng quốc gia cụ thê. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của các nguồn năng lượng truyền thống và phat thai COa làm giảm tiêu thụ NLTT trong khi mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào năng lượng lại kích thích tiêu thụ NLTT. Rafiq và Alam [69] nghiên cứu các yếu tô quyết định tiêu thụ NLTT từ sáu nền kinh tế mới nỗi (Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Philippines và Thổ Nhĩ Kỳ) và sử dụng mô hình dữ liệu bảng EMOLS và DOLS và mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL). Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập và phát thải chất ô nhiễm là động lực chính của NLTT ở Brazil, Trung Quốc, An Độ va Indonesia trong khi thu nhập dường như là nhân tổ tác động duy nhất đến NLTT ở Thổ Nhĩ Kỳ và Philippines.
Omri và Nguyen [66] xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ NLTT của 64 quốc gia trong giai đoạn 1990-2011 bằng mô hình bảng GMM. Tác giả nhận thấy rằng mở cửa thương mại và sự gia tăng lượng khí thải carbon là những yêu tố ảnh hưởng lớn đến NLTT. Giá dầu có tác động tiêu cực đến sự phát triển NLTT trong các nhóm thu nhập trung bình và trên toàn cầu. Lin và cộng sự [54] đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến tiêu thụ điện tái tạo ở Trung Quốc giai đoạn 1980 - 2011 bang cách áp dụng phương pháp đồng liên kết Johansen và mô hình hiệu chỉnh sai số véc tơ (VECM).
Kết quả cho thay có mối quan hệ dài hạn giữa tiêu thụ điện tái tạo với GDP bình quân đầu người, mở cửa thương mại, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển tài chính và phần trăm tiêu thụ năng lượng hóa thạch. Theo Chen [31], những thay đổi trong GDP có tác động đáng kể va tích cực đến tiêu thụ NLTT. Chen [31] nhận thấy răng thương mại xuất nhập khâu là những yếu tố quan trọng sẽ ảnh hưởng đến tiêu thụ năng lượng ở Trung Quốc. Xuất khẩu có thé dẫn đến sản xuất nhiều NLTT hơn vì sự gia tăng sản lượng xuất khâu sẽ kích thích tiêu thụ NLTT, sau đó sẽ thúc đây sản xuất và vận chuyên NLTT nhiều hơn ra nước ngoài.
Sebri và Salha [71] đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ NLTT, phát thải CO2 và mở cửa thương mại ở các nước BRICS. Nghiên cứu tiễn hành trong giai đoạn 1971 - 2010 (1992 - 2010 đối với Nga) và sử dụng mô hình ARDL và VECM. Theo kết quả thu được, có đồng liên kết giữa các biến và sự tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tiêu thụ NLTT và mở cửa thương mại của Brazil và An Độ. Akar [28] đã xem xét các yếu tố quyết định tiêu thụ NLTT trong nghiên cứu gồm 12 quốc gia Balkan.
Qua mô hình GMM, mở thương mại được phát hiện có tác động tích cực đến việc tiêu thụ NLTT của các nước Balkan.