Tổng quan nghiên cứu

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), thế giới hiện ghi nhận hơn 610 loài cá di nhập, trong đó các quốc gia ASEAN chiếm 79 loài. Tại Việt Nam, trong hơn 50 năm qua đã có 41 loài thủy sinh vật ngoại lai được nhập nội phục vụ sản xuất lương thực và nuôi cảnh, đóng góp trên 50% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro sinh thái to lớn. Sự phát tán thiếu kiểm soát của các loài sinh vật ngoại lai xâm hại (SVNLXH) vào thủy vực tự nhiên đang làm suy giảm nguồn lợi thủy sản bản địa và biến đổi tiêu cực cấu trúc hệ sinh thái nước ngọt.

Luận văn Thạc sĩ Khoa học chuyên ngành Sinh thái học (mã số 60 42 01 20) của tác giả Nguyễn Hà My tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiến hành kiểm kê, đánh giá hiện trạng phân bố và đề xuất giải pháp quản lý các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại. Nghiên cứu được triển khai toàn diện tại địa bàn 18 xã, thị trấn của huyện Mê Linh (diện tích 141,64 km2) và 27 xã, thị trấn của huyện Sóc Sơn (diện tích 306,5 km2) thuộc thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ tháng 06/2013 đến tháng 09/2014.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi bao quát 100% các lưu vực thủy văn trọng yếu gồm 19,7 km sông Hồng qua Mê Linh, 25 km sông Cà Lồ qua Sóc Sơn cùng hệ thống sông Cầu, sông Công và hơn 2.100 ha diện tích mặt nước ao hồ đầm tự nhiên của hai huyện cửa ngõ phía Bắc thủ đô. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa chuẩn xác, phục vụ công tác lập quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Thuyết Xâm thực Sinh học (Biological Invasion Theory) để phân tích tiến trình du nhập, thích nghi, thiết lập quần thể và bùng phát của các loài thủy sinh ngoại lai trong môi trường mới. Đồng thời, Lý thuyết Ổ sinh thái Hutchinson (Ecological Niche Theory) được áp dụng nhằm giải thích cơ chế cạnh tranh dinh dưỡng và không gian sống giữa các loài cá ngoại lai có biên độ thích nghi rộng với các loài cá bản địa có ổ sinh thái hẹp.

Nghiên cứu sử dụng khung đánh giá rủi ro sinh thái dựa trên tiêu chuẩn phân loại của IUCN và các tiêu chí quy định tại Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các khái niệm cốt lõi được định hình gồm: sinh vật ngoại lai, sinh vật ngoại lai xâm hại, loài có nguy cơ xâm hại, sức tải sinh thái của thủy vực tự nhiên và tính tổn thương của đa dạng sinh học bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp liên ngành giữa Ngư loại học, Sinh thái học và Xã hội học nông thôn. Cỡ mẫu sơ cấp bao gồm 150 phiếu điều tra định lượng và 45 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với cán bộ quản lý nông nghiệp, cán bộ hợp tác xã và các hộ nuôi trồng thủy sản tại 45 xã, thị trấn của 2 huyện. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) được lựa chọn nhằm tối ưu hóa việc thu thập dữ liệu tại các vùng sinh thái có mật độ hoạt động thủy sản cao và các điểm tiếp giáp sông ngòi lớn.

Hoạt động khảo sát thực địa được tổ chức thành 3 đợt quy mô: Đợt 1 vào tháng 7 năm 2013, Đợt 2 vào tháng 5 năm 2014 và Đợt 3 vào tháng 8 năm 2014, đại diện cho đầy đủ các chế độ thủy văn mùa lũ và mùa khô. Tác giả sử dụng các ngư cụ chủ động (lưới kéo, chài tiêu chuẩn) và ngư cụ thụ động (lưới tĩnh, lờ, đó) để thu thập mẫu vật tươi nguyên vẹn tại hơn 25 điểm nút sinh thái tự nhiên. Mẫu cá được định hình và bảo quản trong dung dịch formalin 8-10% hoặc cồn etylic 76 độ, sau đó tiến hành định loại hình thái học so sánh dựa trên các khóa phân loại chuyên khảo trong nước và quốc tế kết hợp tham vấn các chuyên gia đầu ngành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa đã định loại chính xác 5 loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại tại huyện Mê Linh và 6 loài tại huyện Sóc Sơn:

  1. Cá rô phi đen (Oreochromis mossambicus Peters, 1852) - Loài ngoại lai xâm hại.
  2. Cá tỳ bà lớn (Pterygoplichthys pardalis Castelnau, 1855) - Loài có nguy cơ xâm hại.
  3. Cá tỳ bà bé (Hypostomus punctatus Valenciennes, 1840) - Ghi nhận tại Sóc Sơn, loài có nguy cơ xâm hại.
  4. Cá trê phi (Clarias gariepinus Burchell, 1822) - Loài có nguy cơ xâm hại.
  5. Cá trôi Nam Mỹ (Prochilodus lineatus Spix & Agassi, 1829) - Loài có nguy cơ xâm hại.
  6. Cá chim trắng bụng đỏ (Piaractus brachypomus Cuvier, 1818) - Loài có nguy cơ xâm hại.

Tỷ lệ phân bố theo hệ sinh thái phản ánh mức độ thích nghi vượt trội của các nhóm loài này. Cả 6 loài đều xuất hiện với tỷ lệ 100% tại hệ sinh thái ao hồ nhân tạo và hệ sinh thái nông thôn nơi có hoạt động nuôi thương phẩm. Đáng chú ý, tại hệ sinh thái sông tự nhiên và đất ngập nước, có tới 80% số loài tại Mê Linh (4/5 loài) và 83,3% số loài tại Sóc Sơn (5/6 loài) đã thoát ra ngoài tự nhiên, tự sinh sản và thiết lập quần thể hoang dã bền vững. Tần suất bắt gặp của cá rô phi đen và cá tỳ bà lớn tại các nhánh sông Cà Lồ, sông Cầu và các hồ chứa tự nhiên đạt mức trên 85% tổng số mẻ lưới khảo sát.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự lan tràn của cá ngoại lai xuất phát từ tốc độ đô thị hóa nhanh và quá trình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp (tốc độ tăng trưởng công nghiệp Mê Linh đạt 26,7%/năm, Sóc Sơn đạt 23,55%/năm giai đoạn 2002-2010). Hai huyện sở hữu hệ thống ao hồ nuôi trồng lớn với 1.903 ha tại Sóc Sơn và hơn 200 ha tại Mê Linh, phần lớn sử dụng hệ thống kênh hở kết nối trực tiếp với sông Cà Lồ và sông Hồng. Trong mùa mưa lũ, khi thời gian ngập úng kéo dài từ 30 đến 40 ngày tại các vùng trũng thấp, lượng lớn cá nuôi thương phẩm đã thoát ra hệ sinh thái tự nhiên. Tập quán phóng sinh cá cảnh ngoại lai như cá tỳ bà, cá cọ bể vào sông suối tự nhiên cũng là nguồn bổ sung liên tục cho quần thể hoang dã.

Về mặt sinh thái, sự xâm lấn của cá tỳ bà lớn và cá rô phi đen đang tạo ra áp lực đè nặng lên các loài cá bản địa như cá trôi, cá mè, cá chép do cạnh tranh gay gắt về mùn bã hữu cơ và không gian sinh sản. Tập tính đào hang sâu của cá tỳ bà dọc bờ bùn gây nguy cơ xói lở các bờ kênh mương nội đồng. Trong khi đó, cá chim trắng bụng đỏ và cá trê phi với đặc tính ăn thịt và ăn tạp phàm ăn đe dọa trực tiếp nguồn lợi giáp xác, thân mềm và cá nhỏ bản địa.

Dữ liệu phân bố của luận văn được cấu trúc thành các ma trận sinh thái học và thể hiện sinh động qua 2 bản đồ không gian thể hiện tọa độ các điểm nóng xâm hại, phản ánh trực quan sự gia tăng mật độ cá ngoại lai từ các ao nuôi tập trung ra các trục sông chính như sông Hồng và sông Cà Lồ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát hiệu quả và ngăn chặn sự bùng phát của các loài cá ngoại lai xâm hại tại Mê Linh và Sóc Sơn, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Tăng cường kiểm soát nguồn giống và thực thi pháp lý: Thiết lập hệ thống kiểm tra định kỳ 100% cơ sở kinh doanh cá cảnh và trại sản xuất giống thủy sản tại 45 xã, thị trấn của hai huyện; xử phạt nghiêm minh theo Luật Đa dạng sinh học 2008 đối với các hành vi phát tán, phóng sinh các loài nằm trong Thông tư liên tịch 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT; cơ quan chủ trì là Phòng Kinh tế phối hợp cùng Công an môi trường hai huyện, hoàn thiện danh mục giám sát ngay trong năm 2015.
  • Cải tạo hạ tầng kỹ thuật vùng nuôi an toàn sinh học: Đầu tư lắp đặt hệ thống đăng lưới lọc kiên cố 2 lớp tại 100% cống tiêu thoát nước của 1.903 ha ao hồ tại Sóc Sơn và vùng trũng Mê Linh; đặt mục tiêu cắt giảm trên 80% lượng cá nuôi thương phẩm thoát ra hệ thống sông Cà Lồ và sông Cầu trong các đợt ngập lụt hàng năm; thực hiện bởi các Hợp tác xã Thủy sản và Ban Quản lý Khai thác Công trình Thủy lợi.
  • Phát động chiến dịch khai thác tận thu kiểm soát sinh học: Khuyến khích người dân đánh bắt triệt để các loài cá tỳ bà lớn, cá rô phi đen và cá chim trắng tự nhiên trong mùa sinh sản cao điểm từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm; hướng tới mục tiêu giảm mật độ sinh khối cá ngoại lai tại sông Cà Lồ từ 30% đến 40% trong lộ trình 3 năm; đơn vị điều phối là Hội Nghề cá và Phòng Nông nghiệp địa phương.
  • Nâng cao nhận thức cộng đồng qua truyền thông đa phương tiện: Tổ chức tối thiểu 15 lớp tập huấn chuyên đề hàng năm và phát hành 5.000 tờ rơi hướng dẫn nhận dạng, tác hại của sinh vật ngoại lai đến từng thôn, xóm; nâng tỷ lệ hiểu biết của cộng đồng dân cư từ mức dưới 30% lên trên 80% trong vòng 24 tháng; cơ quan phụ trách là Trung tâm Văn hóa Thông tin và Hội Nông dân 2 huyện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và thủy sản: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Chi cục Thủy sản có thể ứng dụng cơ sở dữ liệu thực địa của luận văn để hoạch định chính sách phân vùng sinh thái và xây dựng kế hoạch hành động ngăn chặn sinh vật ngoại lai cấp tỉnh/thành phố.
  • Cán bộ nông nghiệp và ban quản trị hợp tác xã thủy sản địa phương: Cán bộ khuyến nông tại Mê Linh và Sóc Sơn sử dụng tài liệu để hướng dẫn hộ nuôi thiết kế ao hồ an toàn sinh học, giảm thiểu rủi ro thất thoát giống và phòng ngừa dịch bệnh lây lan từ cá tự nhiên.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Sinh học, Sinh thái học, Môi trường: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp luận kết hợp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) với kỹ thuật điều tra ngư loại học phân loại hình thái tiêu chuẩn trong nghiên cứu thủy vực nước ngọt.
  • Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng số liệu thống kê và bản đồ phân bố của công trình để xây dựng các dự án bảo tồn nguồn gen bản địa, thiết kế các chiến dịch truyền thông về nguy cơ của hoạt động phóng sinh cá ngoại lai thiếu hiểu biết.

Câu hỏi thường gặp

  • Luận văn ghi nhận chính xác bao nhiêu loài cá ngoại lai tại Mê Linh và Sóc Sơn? Luận văn đã kiểm kê và xác định 5 loài tại huyện Mê Linh và 6 loài tại huyện Sóc Sơn theo danh mục của Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT. Các loài xuất hiện gồm cá rô phi đen, cá tỳ bà lớn, cá tỳ bà bé (chỉ có ở Sóc Sơn), cá trê phi, cá trôi Nam Mỹ và cá chim trắng bụng đỏ.

  • Vì sao cá tỳ bà lớn và cá rô phi đen lại chiếm ưu thế tuyệt đối ngoài thủy vực tự nhiên? Hai loài này sở hữu phổ thức ăn rộng, khả năng chịu đựng điều kiện môi trường khắc nghiệt rất cao (nhiệt độ dao động 12-35°C, hàm lượng oxy hòa tan thấp) và tốc độ sinh sản nhanh. Tần suất bắt gặp của chúng tại các sông, hồ tự nhiên ở hai huyện đạt trên 85%, lấn át hoàn toàn các loài cá tầng đáy bản địa.

  • Tác động của chế độ thủy văn và lũ lụt tại Mê Linh và Sóc Sơn đến sự xâm lấn sinh học là gì? Hệ thống sông Hồng, sông Cà Lồ, sông Cầu cùng hơn 2.100 ha mặt nước ao hồ tại 2 huyện thường xuyên chịu ngập úng từ 30 đến 40 ngày trong mùa mưa lũ. Nước dâng cao làm tràn các đầm nuôi nhân tạo, tạo hành lang thuận lợi cho cá ngoại lai di cư ồ ạt ra mạng lưới sông tự nhiên.

  • Khung pháp lý nào được sử dụng làm căn cứ phân loại và quản lý cá ngoại lai trong nghiên cứu? Luận văn căn cứ vào Luật Đa dạng sinh học năm 2008, Luật Thủy sản năm 2003, Công ước Đa dạng sinh học (CBD 1992) và trực tiếp nhất là Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT quy định tiêu chí xác định và danh mục loài ngoại lai xâm hại tại Việt Nam.

  • Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA) mang lại giá trị gì cho luận văn? Phương pháp PRA với 150 phiếu điều tra và 45 cuộc phỏng vấn sâu giúp khai thác tri thức bản địa phong phú của ngư dân và cán bộ địa phương, phản ánh chính xác lịch sử du nhập, mức độ phân bố theo mùa và biến động sản lượng đánh bắt cá ngoại lai mà các đợt khảo sát ngắn ngày khó bao quát hết.

Kết luận

  • Luận văn đã định danh chuẩn xác 5 loài cá ngoại lai tại Mê Linh và 6 loài tại Sóc Sơn, xác lập cơ sở dữ liệu ngư loại học cập nhật theo quy chuẩn kiểm soát sinh thái quốc gia.
  • Nghiên cứu phân tích chi tiết sự thích ứng của các loài ngoại lai trên 7 hệ sinh thái đặc trưng ở Mê Linh và 11 hệ sinh thái ở Sóc Sơn, chỉ ra tỷ lệ xâm lấn tự nhiên trên 80%.
  • Xác định rõ nguyên nhân phát tán chủ yếu là do quá trình đô thị hóa nhanh, mô hình nuôi hở kết hợp với tác động ngập lụt kéo dài 30-40 ngày trong mùa mưa lũ.
  • Xây dựng thành công hệ thống ma trận phân bố và bản đồ số hóa các điểm nóng xâm thực sinh học dọc các lưu vực sông Cà Lồ, sông Hồng và sông Công.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao, bao gồm pháp lý, kỹ thuật ngăn chặn vùng nuôi, khai thác tận thu và truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng.

Công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hà My là đóng góp học thuật tiên phong trong việc đánh giá định lượng hiện trạng cá ngoại lai xâm hại tại vùng chuyển tiếp kinh tế - sinh thái phía Bắc thủ đô Hà Nội. Để duy trì hiệu lực quản lý, các cơ quan chức năng cần định kỳ 12 tháng tiến hành quan trắc biến động sinh khối và mức độ suy giảm của quần xã cá bản địa. Các nhà nghiên cứu và nhà quản lý môi trường được khuyến khích khai thác, tham khảo toàn văn luận văn để áp dụng vào các chương trình hành động bảo vệ đa dạng sinh học thủy vực thực tế.