CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Sinh vật ngoại lai Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các định nghĩa về SVNL. Theo Công ước quốc tế về ĐDSH (CBD): “SVNL là loài, phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn được đưa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ của sinh vật như các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm của những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản được” (Liên Hợp Quốc, 1992).
Theo IUCN (2003): sinh vật ngoại lai là một loài, phân loài hoặc một taxon thấp hơn, kể cả bất kỳ bộ phận, giao tử hoặc chồi mầm có khả năng sống sót và sinh sản, xuất hiện ngoài vùng phân bố tự nhiên trước đây và phạm vi phát tán tự nhiên của chúng. Tại khoản 18 điều 3 Luật đa dạng sinh học Việt Nam năm 2008 định nghĩa “Loài ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trường sống tự nhiên của chúng”. Theo Hội BVTN&MT Việt Nam (VACNE), SVNL có nguồn gốc từ một khu vực, du nhập đến khu vực khác bằng nhiều con đường khác nhau, như: phát tán tự nhiên, du nhập có chủ đích (Du nhập có chủ đích được phép, du nhập có chủ đích không được phép), du nhập không chủ đích (ngẫu nhiên). Loài xâm hại Thuật ngữ này trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên những cách định nghĩa đều xuất phát từ các khía cạnh kinh tế, xã hội.
Có những định nghĩa chỉ dành cho thực vật như Crink và Fuller (1995): “Loài thực vật xâm hại là một loài thực vật ngoại lai phát tán một cách tự nhiên (không có sự hỗ trợ trực tiếp của con người) trong nơi ở tự nhiên hay bán tự nhiên và gây ra sự thay đổi đáng kể về thành phần, cấu trúc hay các quá trình sinh thái”; hay Richardson và nnk (2001): “Thực vật xâm hại là những loài thực vật tự nhiên sinh ra thế hệ con cái có khả năng tái sinh với số lượng lớn ở cách xa nơi ở của bố mẹ và có khả năng phát triển trên vùng rộng”. Cũng có một số định nghĩa chung hơn cho giới sinh vật như Masters và Sheley (2001) cho rằng “ SVNL xâm hại là những loài động thực vật không có nguồn gốc bản địa, gây ảnh hưởng về mặt sinh thái, nơi ở đối với những loài đang tồn tại ở một vùng cụ thể”. Hay theo NARO (2009),“sinh vật xâm hại là những loài đã tạo lập quần thể và tự phân tán, hoặc có tiềm năng tạo lập quần thể và phát tán ở ngoài vùng phân bố tự nhiên và sau đó đe dọa các HST, nơi ở của các loài khác hoặc đe dọa loài khác, có tiềm năng gây hại về kinh tế và môi trường, có hại có sức khoẻ con người”. Nghĩa là những loài động 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực vật du nhập vào vùng bản địa và nhanh chóng sinh sôi và phát triển một cách khó kiểm soát trở thành một hệ động thực vật thay thế và đe doạ nghiêm trọng đến hệ động thực vật bản địa và sự tồn tại của môi trường hệ sinh thái bản địa.
Theo các nghiên cứu, phần lớn các loài xâm hại là loài ngoại lai, nhưng không phải loài ngoại lai nào cũng là loài xâm hại. Mặt khác, loài bản địa cũng có thể trở thành loài xâm hại trong điều kiện có những sự thay đổi của môi trường (như sự chăn thả quá mức, hoả hoạn, thay đổi chế độ dinh dưỡng, sự chiếm cứ nơi ở của một số loài xâm lấn,…), Ví dụ như loài keo bản địa của Uganda là Acacia hockii, loài này đã trở thành loài xâm hại ở nhiều vùng đất đồng cỏ bởi khi số lượng các động vật lớn tại đây suy giảm đã là tác nhân tự nhiên kìm hãm đối với loài keo này (NARO, 2009). Loài ngoại lai xâm hại Trong số những loài du nhập được cho phép (như các loài sinh vật giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật, nấm,…) một số loài đã có tác động tích cực tại nơi ở mới và mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho các quốc gia nhập nội chúng, ví dụ như các dòng rô phi, cá chép được nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam nhằm đa dạng hoá giống loài và tăng sản lượng thuỷ sản làm thực phẩm. Nhưng bên cạnh đó cũng có một số loài có tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học tại nơi chúng du nhập vào bởi lẽ chúng có các đặc tính cơ bản như sinh trưởng, sinh sản rất nhanh, khả năng sinh sản cao, biên độ sinh thái rộng, thích ứng dễ dàng với những thay đổi của môi trường tại nơi chúng du nhập đến, khả năng cạnh tranh về nguồn thức ăn và nơi cư trú lớn, và đặc biệt là khả năng phá tán rộng rãi; chúng để lại những hậu quả xấu cho nền kinh tế các nước nhập khẩu.
Chúng lấn át, loại trừ và làm suy giảm các loài sinh vật và nguồn gen, phá vỡ cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, phá hoại mùa màng, làm giảm năng suất cây trồng và vật nuôi, thậm chí ảnh hưởng đến sức khoẻ con người,… những loài đó được gọi là loài ngoại lai xâm hại. Vì vậy các định nghĩa về loài ngoại lai xâm hại được nêu rõ ràng hơn với Công ước quốc tế về ĐDSH (CBD): sinh vật ngoại lai xâm hại là loài sinh vật ngoại lai đã tạo lập được quần thể và phát tán, đe dọa các hệ sinh thái, nơi ở hoặc loài sinh vật khác, gây ra những tác hại về kinh tế và môi trường (CBD, 1992). Hay theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) năm 2003, SVNL xâm hại là một loài SVNL đã thích nghi và phát triển trong một HST hoặc mơi ở mới (tự nhiên hoặc bán tự nhiên) và là nguyên nhân gây ra sự thay đổi, đe doạ ĐDSH bản địa”. Theo Luật Đa dạng sinh học năm 2008 của Việt Nam định nghĩa “Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển”.
Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT ngày 28/12/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định loài ngoại lai xâm hại được xác định dựa trên các tiêu chí như sau: - Tự thiết lập quần thể trong tự nhiên, đang lấn chiếm nơi sinh sống, cạnh tranh thức ăn hoặc gây hại đối với các sinh vật bản địa, phát tán mạnh hoặc gây mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển ở Việt Nam; - Được đánh giá là có nguy cơ xâm hại cao đối với đa dạng sinh học và được ghi nhận là xâm hại ở khu vực có khí hậu tương đồng với Việt Nam hoặc qua khảo nghiệm, thử nghiệm có biểu hiện xâm hại. Loài sinh vật ngoại lai xâm hại có thể gây ra riêng đối với hệ sinh thái và môi trường sống của các loài sinh vật bản địa có thể đề cập đến như: - Chúng cạnh tranh với các loài bản địa về thức ăn, nơi sinh sống, đẩy các loài bản địa vào con đường diệt vong; - Ăn thịt các loài khác, đặc biệt các loài bản địa; - Phá hủy và làm suy giảm chất lượng môi trường sống bản địa, phá hoại mùa màng; - Truyền bệnh và ký sinh trùng cho các loài bản địa cũng như cư dân sinh sống tại địa phương. Sinh vật ngoại lai xâm hại gây ra những hậu quả lâu dài và khó kiểm soát không chỉ đối với việc phá vỡ cân bằng sinh thái, làm giảm ĐDSH, làm suy yếu các chức năng của HST, mà còn gây thiệt hại đáng kể về kinh tế xã hội, sức khoẻ con người. Theo nghiên cứu của IUCN: hàng năm những chi phí cho phòng chống các loài SVNL xâm hại ở trên thế giới ước tính giá trị đạt 400.000 triệu USD, chi phí kinh tế liên quan ước tính khoảng 400 tỷ USD (IUCN, 2003).
Cơ sở phân mức độ xâm hại Sinh vật ngoại lai có mặt trong tất cả các nhóm phân loại chủ yếu, bao gồm virus, nấm, tảo, rêu, dương xỉ, thực vật bậc cao, động vật không xương sống, cá, lưỡng cư, bò sát, chim, thú. Một trong những nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học hiện nay là do các loài sinh vật xâm lấn. Tuy nhiên chưa có một tiêu chuẩn thống nhất nào để tính mức độ xâm hại của các SVNL xâm hại. Theo Kevin Heffernan Stewardship (2014), mức độ xâm hại (I-Ranks) chia làm 3 cấp: Mức xâm hại cao (H), gây hại nghiêm trọng đến các loài bản địa, quần xã tự nhiên hoặc khía cạnh kinh tế; Mức xâm hại trung bình (M), gây hại trung bình đến các loài bản địa, quần xã tự nhiên hoặc kinh tế; Mức xâm hại nguy hại thấp (L), gây hại thấp đến các loài bản địa, quần xã tự nhiên hoặc kinh tế.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhà khoa học khuyến nghị đưa ra 5 cấp độ xâm hại: Xâm hại nghiêm trọng (MA); Xâm hại cao (MR); Xâm hại vừa (MO); Ít xâm hại (MI); Rất ít xâm hại (ML) và thiếu dữ liệu (DD). Theo đó, mức xâm hại tăng dựa theo các tiêu chí như: Thay đổi quá trình tự nhiên như dòng chảy, tính chất hóa học của đất; xâm nhập vào các khu vực tự nhiên; gây tác động tiêu cực đến các loài bản địa quý hiếm và khu bảo tồn tự nhiên; phân bố rộng; phát tán đến các nơi mới; cần thiết phải có nguồn lực để quản lý và kiểm soát (Bộ Tài nguyên và Môi trường, kiến thức cơ bản về sinh vật ngoại lai) 1. Tác động của sinh vật ngoại lai xâm hại Sinh vật ngoại lai xâm hại là một loài sinh vật ngoại lai có thể thích nghi, phát triển, tăng nhanh số lượng cá thể trong hệ sinh thái hoặc nơi sống mới và có mặt trong tất cả các nhóm, phân loại chủ yếu bao gồm các loài virus, nấm, tảo, rêu, dương xỉ, thực vật bậc cao, động vật không xương sống, cá, lưỡng cư, bò sát, chim và thú. SVNL xâm hại đã xâm chiếm và ảnh hưởng đến hệ sinh vật bản địa trong mọi loại hình của hệ sinh thái trên trái đất.
Chúng góp phần tạo ra sự tuyệt chủng của nhiều loài, ảnh hưởng đến các ngành kinh tế, tác động tiêu cực tới kinh tế - xã hội và sức khỏe của con người. IUCN 2003 đã nghiên cứu và đưa ra danh mục khuyến cáo về các loài xâm hại toàn cầu.