MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài. “Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền” câu tục ngữ trên đã cho thấy tầm quan trọng của nghề nuôi trồng thủy sản trên đất nước ta. Đây là nghề mang lại lợi nhuận nhanh, nhiều và tương đối hiệu quả đối với đất nước có các điều kiện thích hợp cho việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản như ở Việt Nam. Nhờ việc phát triển nuôi trồng thủy sản mà một số nơi đã xóa đói giảm nghèo, góp phần tăng thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống cho nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản cũng mang lại một số mặt tiêu cực đáng chú ý.Với tốc độ phát triển nhanh, tự phát, không theo quy hoạch nghề nuôi trồng thủy sản đang tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm đến môi trường, dịch bệnh và vệ sinh thực phẩm. Hiện nay, có rất nhiều loại sản phẩm thuốc, hoá chất được dùng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản như: Thuốc diệt nấm, thuốc khử trùng, thuốc diệt tảo, thuốc diệt ký sinh trùng,… Những hoá chất trên nếu sử dụng đúng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khoẻ động vật thuỷ sản, nhưng khi lạm dụng sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, gây rủi do cho người lao động, tồn dư các chất độc trong sản phẩm thuỷ sản gây hại cho người tiêu dùng, làm giảm giá trị thương phẩm, tạo các chủng vi khuẩn kháng thuốc làm giảm hiệu quả trong điều trị bệnh và hơn nữa còn làm tồn dư trong nước gây ô nhiễm nguồn nước. Ngoài ra việc nuôi trồng thủy sản lẻ tẻ, tự phát ở các hộ gia đình khiến cho cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác nuôi trồng thủy sản không đảm bảo như chưa có các đường kênh rãnh dẫn và xả nước từ ao ra ngoài mà xả trực tiếp ra đồng ruộng hoặc xả vào kênh rãnh dẫn nước chung ảnh hưởng đến những hộ nuôi trồng khác và ảnh hưởng cả đến nguồn nước mặt chung, hay đường xá đi lại không thuận lợi cũng như thị trường tiêu thụ không được đảm bảo. Hơn nữa các chất thải từ việc nuôi trồng thủy sản như hóa chất cải tạo ao, hồ, đầm,… hay xác chết của thủy sản cũng không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường nước.
n 2 Xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh cũng có điều kiện lý tưởng để nuôi trồng thủy sản và nghề này đang được phát triển mạnh mẽ trên địa bàn xã. Tuy nhiên, việc phát triển nhanh không theo quy hoạch cũng đang là vấn đề cấp thiết đe dọa đến môi trường nước trên địa bàn xã. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - trường Đai học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo Th.s Nguyễn Duy Hải, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng thủy sản và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm đến môi trường nước tại xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh”. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu công tác nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. - Đánh giá các tác động từ hoạt động nuôi trồng thủy sản tới môi trường nước. - Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu, khắc phục ô nhiễm nhằm cải thiện môi trường nước. Yêu cầu của đề tài.
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác. Phản ánh đúng hiện trạng hiện trạng môi trường nước tại địa phương. Đảm bảo những kiến nghị, đề xuất có tính khả thi và phù hợp với yêu cầu ở địa phương. Ý nghĩa của đề tài.
Ý nghĩa trong học tập. - Qua quá trình thực hiện đề tài có thể tích lũy được nhiều kinh nghiệm có ích khi ra trường. Có khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế. Là báo cáo tốt nghiệp cho sinh viên.
Ý nghĩa trong thực tiễn. - Đánh giá hiện trạng môi trường nước. Xác định mức độ ô nhiễm và mức ảnh hưởng của chúng đến môi trường nước. Giúp người dân thấy được hiện trạng môi trường nước đang bị ô nhiễm từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của mình đối với môi trường xung quanh.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài. Một số khái niệm. Khái niệm môi trường.
Theo Luật bảo vệ môi trường 2005, của nước CHXHCN Việt Nam thì môi trường được khái niệm như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ trực tiếp với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. Khái niệm nguồn nước. Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, ao, hồ, đầm, phá, biển các tầng chứa nước dưới đất, mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác. Khái niệm ô nhiễm nguồn nước.
Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép gây ảnh hưởng đến con người và sinh vật. Các chỉ tiêu đánh giá môi trường nước. Các chỉ tiêu vật lý. Là đại lượng toán học biểu thị nồng độ hoạt tính ion H+ trong nước, pH được sử dụng để đánh giá tính axit hay tính kiềm của dung dịch nước và được tính bằng công thức: pH = - log [H+].
pH là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá chất lượng nguồn nước. Sự thay đổi pH dẫn đến sự thay đổi thành phần hóa học của nước (sự kết tủa, sự hòa tan, cân bằng cacbonat,.) các quá trình sinh học trong nước. Giá trị pH của nguồn nước góp phần quyết định phương pháp xử lý nước. pH được xác định bằng máy đo pH hoặc phương pháp chuẩn độ.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến độ pH, đến các quá trình hóa học và sinh hóa xảy ra trong nước. Nhiệt độ phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xung quanh, vào thời gian trong ngày, vào mùa trong năm. Nhiệt độ cần được xác định tại chỗ (nơi lấy mẫu). Nước nguyên chất không có màu, màu sắc được tạo nên bởi các tạp chất trong nước (thường là do nước hữu cơ), một số ion vô cơ một số loài thủy sinh vật,.
Màu sắc mang tính chất cảm quan, các hợp chất hữu cơ có màu trong nước cũng có thể tác dụng với clo tạo ra một số sản phẩm độc như cloroform,. Độ đục là mức độ ngăn cản ánh sáng xuyên qua nước. Độ đục của nước có thể do nhiều loại chất lơ lửng bao gồm các loại có kích thước hạt keo đến những hệ phân tán thô gây nên như các chất huyền phù, các hạt cặn cát, các vi sinh vật. Nó cũng chứa nhiều thành phần hóa học như: Vô cơ, hữu cơ.
- Độ đục cao biểu thị nồng độ nhiễm bẩn trong nước cao. - Ảnh hưởng đến quá trình lọc vì các lỗ hổng sẽ bị bịt kín. - Khử trùng ảnh hưởng đến độ đục. Đơn vị đo độ đục: 1JTU = 1NTU = 1mg SO2/l = 1 đơn vị độ đục.
Độ đục được đo bằng máy quang phổ, đơn vị: NTU, FTU. Đo bằng trực quan, đơn vị: JTU. Tổng hàm lượng chất rắn (TS). Các chất rắn trong nước có thể là chất tan hay không tan.
Các chất này bao gồm cả các chất vô cơ lẫn các chất hữu cơ. Tổng hàm lượng chất rắn (TS) là lượng khô tính bằng mg của phần còn lại sau khi làm bay hơi một lít mẫu nước trên nồi cách thủy rồi sấy khô ở 1050C cho tới khi khối lượng không đổi (mg/l). Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS). Các chất rắn lơ lửng (các chất huyền phù) là những chất rắn không tan trong nước.
Tổng hàm lượng các chất lơ lửng (TSS) là lượng khô của phần chất rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc một lít nước mẫu qua phễu n 6 lọc sợi thủy tinh sau đó sấy khô ở nhiệt độ 1050C cho đến khi khối lượng không đổi (mg/l). Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TDS). Các chất rắn hòa tan là những chất tan được trong nước, bao gồm cả chất vô cơ lẫn chất hữu cơ. Hàm lượng các chất hòa tan (TDS) là lượng khô của phần dung dịch khi lọc một lít nước mẫu qua phễu lọc có sợi thủy tinh sau đó sấy khô ở nhiệt độ 1050C cho đến khi khối lượng không đổi (mg/l).
Các chỉ tiêu hóa học. Hàm lượng oxigen hòa tan (DO). Khái niệm: Là lượng oxi có trong nước được tính bằng mg/l hay % bão hòa dựa vào nhiệt độ. Oxi trong mặt nước dao động từ 0 mg/l đến 15 mg/l ở điều kiện nước đóng băng.
Các dòng sông hồ có hàm lượng DO cao, có nhiều loài sinh vật sinh sống trong đó. Khi DO trong nước thấp làm giảm khả năng sinh trưởng của động vật thủy sinh, thậm chí biến mất một số loài hoặc có thể gây chết một số loài nếu DO giảm đột ngột. [1] Hàm lượng DO trong nước phù thuộc vào nhiều yếu tố như áp suất, nhiệt độ, thành phần hóa học của nguồn nước, số lượng vi sinh, thủy sinh vật,. Hàm lượng DO có mối quan hệ mật thiết đến các thông số như COD, BOD của nguồn nước.
Nếu trong nước hàm lượng DO cao, các quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ xảy ra theo hướng háo khí, còn nếu hàm lượng DO thấp, thậm chí không còn thì quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ xảy ra theo hướng hiếm khí. Nhu cầu oxigen hóa học (COD). Khái niệm: Là lượng oxigen cần thiết để vi khuẩn có trong nước phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí. Trong môi trường nước, khi quá trình oxi hóa sinh học xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxigen hòa tan để oxi hóa các chất hữu cơ và chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vô cơ bền vững như CO2, CO32-, SO42-, PO42- và NO3-.
n 7 COD giúp đánh giá được chất lượng hữu cơ trong nước có thể bị oxi hóa bằng các chất hóa học (tức là đánh giá mức độ ô nhiễm của nước), việc xác định COD có ưu điểm là cho kết quả nhanh (chỉ mất khoảng 10 phút nếu xác định bằng phương pháp permanganat). Nhu cầu oxigen sinh hóa (BOD). Nhu cầu oxigen sinh hóa (BOD): Là lượng oxigen cần thiết để vi khuẩn có trong nước phân hủy các chất hữu cơ. Tương tự như COD, BOD cũng là một chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn của nước.