Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Việt Nam trong những năm qua đã thúc đẩy việc thu hồi đất nông nghiệp trên quy mô lớn nhằm phục vụ phát triển hạ tầng và các khu đô thị dịch vụ tập trung. Theo số liệu thống kê toàn quốc, hơn 728.000 ha đất (trong đó có trên 536.000 ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình đã được thu hồi phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, việc mất đi tư liệu sản xuất chính khiến nhiều nông hộ đối mặt với nguy cơ mất việc làm, xáo trộn lối sống và bất ổn sinh kế nếu không có chính sách bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng.

Thị xã Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh là địa bàn trọng điểm nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội khoảng 18 km và thành phố Bắc Ninh 13 km. Trên địa bàn phường Đồng Kỵ, Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị và dịch vụ Từ Sơn đã thực hiện thu hồi quy mô 68,7 ha đất nông nghiệp, tác động trực tiếp đến đời sống và công ăn việc làm của 1.250 hộ dân địa phương. Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá toàn diện các ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến thu nhập, biến động việc làm và điều kiện sống của người dân; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề và tạo sinh kế bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn trong khoảng thời gian từ tháng 02/2016 đến tháng 05/2017. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, đề tài cung cấp các bằng chứng thực nghiệm rõ ràng: phân bổ nguồn kinh phí bồi thường 18,881 tỷ đồng cho 150 hộ khảo sát, chỉ ra sự chuyển dịch thu nhập bình quân từ 48,7 triệu đồng/người/năm lên 81,9 triệu đồng/người/năm, đồng thời cảnh báo tình trạng tỷ lệ lao động chưa có việc làm gia tăng từ 5,36% lên 9,05% sau khi bàn giao mặt bằng sản xuất nông nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba nền tảng lý thuyết chính trong kinh tế học và quản lý đất đai:

Thứ nhất là Lý thuyết quyền tài sản và sở hữu đất đai (Property Rights Theory), làm rõ bản chất quyền sử dụng đất của người dân được Nhà nước công nhận và cơ chế chuyển dịch quyền sở hữu khi Nhà nước thực hiện quyền thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 (các điều 61, 62, 64 và 65).

Thứ hai là Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của tổ chức DFID, phân tích khả năng thích ứng của các hộ gia đình thông qua 5 nguồn lực sinh kế: nguồn vốn tự nhiên (đất đai), nguồn vốn vật chất (nhà cửa, hạ tầng kỹ thuật), nguồn vốn tài chính (tiền bồi thường, tích lũy thu nhập), nguồn vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp) và nguồn vốn xã hội (mối quan hệ cộng đồng, làng nghề truyền thống).

Thứ ba là Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn (Lewis Model), lý giải sự di chuyển của lực lượng lao động nông nghiệp dư thừa sang khu vực công nghiệp và dịch vụ thương mại.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Thu hồi đất theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013; Việc làm bền vững theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Bộ luật Lao động năm 2012; An sinh xã hội và chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân mất đất canh tác theo tinh thần Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, Nghị định số 61/2015/NĐ-CP và Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định hỗ trợ học nghề trong thời hạn tối đa 5 năm kể từ ngày có quyết định thu hồi đất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính chuẩn xác, khoa học:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011-2015 của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Hội đồng Bồi thường giải phóng mặt bằng thị xã Từ Sơn và UBND phường Đồng Kỵ về hiện trạng quản lý sử dụng đất, cơ cấu kinh tế và các văn bản pháp lý liên quan đến dự án.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra phỏng vấn trực tiếp 150 chủ hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp tại dự án bằng bảng hỏi chuẩn hóa.

Về phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) để chia 150 hộ khảo sát thành 3 nhóm đồng đều:

  • Nhóm I gồm 50 hộ bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp được giao;
  • Nhóm II gồm 50 hộ bị thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp;
  • Nhóm III gồm 50 hộ bị thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tầng này là nhằm phản ánh khách quan và toàn diện mức độ suy giảm tư liệu sản xuất tác động khác nhau như thế nào đến khả năng xoay xở sinh kế của từng phân nhóm nông hộ.

Về phương pháp phân tích: Nghiên cứu áp dụng phương pháp so sánh trước - sau (Before-After Analysis) kết hợp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm chuyên dụng Microsoft Excel. Lý do chọn phương pháp này nhằm định lượng hóa chính xác sự biến thiên của các chỉ số tài chính, việc làm và mức sống trước và sau mốc thời gian thu hồi đất. Toàn bộ quy trình khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu chuyên gia và xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm túc từ tháng 02/2016 đến tháng 05/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế trên 150 hộ gia đình chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị và dịch vụ Từ Sơn đã chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, quy mô thu hồi đất và cơ cấu sử dụng vốn bồi thường: Tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của 150 hộ điều tra là 31.198,5 m2 với tổng kinh phí bồi thường và hỗ trợ được phê duyệt, chi trả là 18.881 triệu đồng. Nguồn tiền này được các hộ phân bổ vào 6 mục đích chính: Đầu tư sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất với 5.573 triệu đồng (29,52%); Xây dựng, nâng cấp nhà ở đạt 3.938 triệu đồng (20,86%); Mua sắm trang thiết bị và đồ dùng gia đình là 3.006 triệu đồng (15,92%); Gửi tiết kiệm ngân hàng đạt 2.568 triệu đồng (13,60%); Đầu tư cho việc học tập của con em là 2.011 triệu đồng (10,65%); và Các khoản chi tiêu sinh hoạt khác là 1.658 triệu đồng (8,78%).

Thứ hai, sự tăng trưởng vượt bậc về thu nhập bình quân: Thu nhập bình quân đầu người của các hộ trước thời điểm thu hồi đất đạt 48,7 triệu đồng/người/năm, sau khi thu hồi đất đã tăng vọt lên mức 81,9 triệu đồng/người/năm (mức tăng trưởng tương đương 68,17%). Thu nhập gia tăng chủ yếu nhờ việc chuyển đổi dòng vốn bồi thường sang mở rộng kinh doanh dịch vụ và phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp đồ gỗ mỹ nghệ truyền thống.

Thứ ba, áp lực gia tăng tỷ lệ lao động chưa có việc làm: Trước khi thu hồi đất, tổng số nhân khẩu trong độ tuổi lao động của 150 hộ là 560 người, trong đó 530 người có việc làm ổn định (chiếm 94,64%) và 30 người chưa có việc làm (chiếm 5,36%). Sau khi thu hồi đất, tổng lực lượng lao động tăng lên 641 người, trong đó số người có việc làm là 583 người (chiếm 90,95%), còn số người chưa có việc làm tăng lên 58 người (chiếm 9,05%, tăng 3,69 điểm phần trăm so với ban đầu).

Thứ tư, cải thiện điều kiện hạ tầng nhưng đối mặt với suy thoái môi trường: Có tới 80,7% số hộ dân được khảo sát đánh giá điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông, điện chiếu sáng và phúc lợi công cộng tốt hơn nhiều so với giai đoạn trước thu hồi. Dẫu vậy, môi trường tự nhiên đang chịu áp lực nặng nề khi sông Ngũ Huyện Khê chảy qua địa bàn phải gánh chịu lượng nước thải sản xuất làng nghề lên tới 20.000 m3/ngày đêm chưa qua xử lý triệt để.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét nguyên nhân đằng sau sự tăng trưởng thu nhập, luận văn nhận định rằng phường Đồng Kỵ có lợi thế đặc thù là cái nôi của làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ nổi tiếng toàn quốc. Khi nhận khoản đền bù lớn (trung bình hơn 125 triệu đồng/hộ), phần lớn các gia đình đã nhạy bén tận dụng nguồn lực tài chính để mở rộng xưởng gỗ, mua sắm máy móc chạm khắc và đầu tư cửa hàng trưng bày. Tuy nhiên, nghịch lý tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 5,36% lên 9,05% được giải thích bởi rào cản chuyển đổi nghề nghiệp của nhóm lao động trung niên (trên 45 tuổi). Nhóm đối tượng này có trình độ văn hóa hạn chế, khó thích ứng với yêu cầu tuyển dụng kỹ thuật cao của các khu công nghiệp tập trung hoặc không đủ vốn kinh doanh độc lập.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, mô hình tái định cư tự do bằng tiền mặt tại Đồng Kỵ có tỷ lệ lựa chọn tương tự như bài học tại Trung Quốc (nơi 90% nông dân chọn đền bù tiền mặt), nhưng Việt Nam chưa thiết lập được các quỹ an sinh xã hội tích hợp như trợ cấp dưỡng lão định kỳ 30.000 Nhân dân tệ/người cho người cao tuổi. Khác với chiến lược của Hàn Quốc (quy định cung cấp không gian thương mại tối đa 27 m2/hộ trong các tòa nhà đô thị mới) hay mô hình đối thoại trực tiếp trọn gói của ngành điện lực Thái Lan, chính sách hỗ trợ tìm kiếm việc làm tại địa bàn nghiên cứu theo Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg vẫn chưa phát huy tối đa hiệu quả do người dân còn thụ động và thiếu thông tin thị trường lao động.

Để làm nổi bật các chiều cạnh phân tích, toàn bộ dữ liệu thực chứng trong luận văn được minh họa sinh động qua hệ thống các bảng thống kê đa chiều (Bảng phân bổ chi tiêu 6 hạng mục tiền bồi thường, Bảng so sánh việc làm trước và sau thu hồi) kết hợp cùng biểu đồ cột thể hiện mức tăng thu nhập bình quân từ 48,7 triệu lên 81,9 triệu đồng/người/năm và biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu kinh tế thị xã Từ Sơn với công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng áp đảo 77,9%, dịch vụ 20,1% và nông nghiệp thu hẹp còn 2%.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm ổn định sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân:

Nhóm giải pháp 1: Hoàn thiện cơ chế chính sách và đào tạo nghề chuyển đổi

  • Chủ thể thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng UBND tỉnh Bắc Ninh.
  • Hành động: Xây dựng và phê duyệt phương án đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm đồng thời với phương án bồi thường giải phóng mặt bằng trước thời điểm thu hồi đất ít nhất 6 tháng. Thực hiện đầy đủ các gói hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp và trung cấp theo Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg.
  • Mục tiêu: Đạt 100% người lao động bị thu hồi đất có nhu cầu được đào tạo nghề miễn phí, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp của các hộ thu hồi đất từ 9,05% xuống dưới 4% trong giai đoạn 2017-2020.

Nhóm giải pháp 2: Tư vấn quản lý tài chính và định hướng sinh kế nông hộ

  • Chủ thể thực hiện: UBND thị xã Từ Sơn, UBND phường Đồng Kỵ và Hội Nông dân cơ sở.
  • Hành động: Thành lập các tổ công tác tư vấn tài chính trực tiếp hướng dẫn người dân sau khi nhận tiền bồi thường. Khuyến khích các hộ phân bổ tối thiểu 50% vốn vào sản xuất kinh doanh bền vững, mua bảo hiểm tự nguyện và gửi tiết kiệm tích lũy, hạn chế tối đa việc chi tiêu vào tiêu dùng xa xỉ hoặc sa vào các tệ nạn xã hội.
  • Timeline: Triển khai liên tục trong vòng 30 đến 60 ngày ngay sau khi hoàn tất chi trả bồi thường.

Nhóm giải pháp 3: Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật gắn với bảo vệ môi trường sinh thái

  • Chủ thể thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Từ Sơn kết hợp Ban Quản lý Dự án khu đô thị.
  • Hành động: Khẩn trương quy hoạch và xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất thiết kế trên 20.000 m3/ngày đêm cho lưu vực sông Ngũ Huyện Khê; bố trí tối thiểu 15% quỹ đất dự án cho công viên cây xanh, khu thể thao và các công trình phúc lợi công cộng phục vụ cư dân bản địa.
  • Timeline: Hoàn thành nghiệm thu và đưa vào vận hành trước quý IV/2018.

Nhóm giải pháp 4: Nâng cao trách nhiệm xã hội và cam kết tuyển dụng của doanh nghiệp

  • Chủ thể thực hiện: Các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu đô thị, chủ cơ sở sản xuất tại các cụm công nghiệp Từ Sơn.
  • Hành động: Ký kết quy chế phối hợp với chính quyền địa phương, cam kết dành tối thiểu 30% chỉ tiêu tuyển dụng lao động phổ thông và kỹ thuật sơ cấp cho các thành viên thuộc hộ gia đình có đất bị thu hồi.
  • Mục tiêu: Bảo đảm giải quyết việc làm tại chỗ cho trên 80% lao động mất đất chưa có việc làm ổn định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, là nguồn tài liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và lao động (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện): Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và quy trình đánh giá tác động xã hội, giúp các nhà quản lý hoàn thiện chính sách lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư và đào tạo nghề theo Luật Đất đai.

Thứ hai, các chủ đầu tư dự án bất động sản, ban quản lý khu đô thị và dịch vụ: Nghiên cứu đưa ra bài học kinh nghiệm sâu sắc về cách thức phân bổ nguồn vốn bồi thường 18,881 tỷ đồng, tối ưu hóa công tác dân vận, xây dựng sự đồng thuận xã hội của 1.250 hộ dân, từ đó đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và giảm thiểu tối đa các tranh chấp, khiếu kiện phức tạp.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn: Đề tài là tài liệu tham khảo chất lượng về phương pháp khảo sát 150 nông hộ theo mô hình phân tầng tỷ lệ mất đất, kỹ thuật xử lý dữ liệu trước - sau và khung lý thuyết sinh kế đô thị hóa.

Thứ tư, chính quyền cơ sở (UBND cấp xã, phường, Hội Nông dân và các đoàn thể địa phương): Cung cấp cẩm nang thực tiễn để định hướng tư vấn tài chính, tái cơ cấu nghề nghiệp cho người dân vùng ven đô thị, giúp các địa phương đang trong quá trình chuyển dịch đất đai duy trì ổn định trật tự an ninh xã hội.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao thu nhập bình quân của người dân phường Đồng Kỵ lại tăng mạnh sau khi bị thu hồi đất? Thu nhập bình quân tăng từ 48,7 triệu lên 81,9 triệu đồng/người/năm (tăng 68,17%) chủ yếu nhờ phường Đồng Kỵ sở hữu thế mạnh làng nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống. Sau khi nhận khoản bồi thường bình quân trên 125 triệu đồng/hộ, các gia đình đã phân bổ 5.573 triệu đồng (29,52% tổng vốn) vào đầu tư xưởng mộc, máy móc và dịch vụ thương mại, tạo ra giá trị gia tăng vượt trội so với độc canh nông nghiệp trước đây.

  2. Tại sao tỷ lệ thất nghiệp tại địa bàn nghiên cứu lại gia tăng từ 5,36% lên 9,05% sau khi thu hồi đất? Nguyên nhân cốt lõi là do sau khi thu hồi đất nông nghiệp, 150 hộ điều tra phát sinh thêm 28 người không còn ruộng canh tác và chưa kịp thích ứng với nghề mới. Đặc biệt, nhóm lao động từ 45 tuổi trở lên gặp nhiều trở ngại về trình độ chuyên môn, sức khỏe và kỹ năng công nghiệp, dẫn tới sự phân hóa việc làm sâu sắc giữa các nhóm tuổi.

  3. Các hộ gia đình trong dự án đã sử dụng tổng nguồn tiền bồi thường 18,881 tỷ đồng vào những việc gì? Kết quả khảo sát 150 hộ chỉ rõ nguồn tiền 18,881 tỷ đồng được sử dụng rất thực tế: 5.573 triệu đồng đầu tư sản xuất kinh doanh, 3.938 triệu đồng xây dựng nhà ở khang trang, 3.006 triệu đồng mua sắm phương tiện và đồ dùng sinh hoạt, 2.568 triệu đồng gửi tiết kiệm lấy lãi, 2.011 triệu đồng cho con em học tập nâng cao trình độ và 1.658 triệu đồng chi tiêu sinh hoạt khác.

  4. Quá trình thu hồi đất và phát triển khu đô thị dịch vụ tác động tiêu cực thế nào đến môi trường địa phương? Bên cạnh 80,7% hộ dân đánh giá hạ tầng kỹ thuật khang trang hơn, quá trình đô thị hóa nhanh gây áp lực trầm trọng lên hệ thống thoát nước. Lưu vực sông Ngũ Huyện Khê phải tiếp nhận hơn 20.000 m3 nước thải mỗi ngày từ các cơ sở gia công gỗ và tiểu thủ công nghiệp chưa qua xử lý chuẩn mực, đe dọa trực tiếp chất lượng nguồn nước mặt và cảnh quan sinh thái.

  5. Những kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng hiệu quả cho bài toán thu hồi đất tại Việt Nam? Kinh nghiệm của Trung Quốc về việc trích lập quỹ an sinh xã hội chi trả dưỡng lão định kỳ 30.000 Nhân dân tệ cho người cao tuổi mất đất và bài học Hàn Quốc về việc cấp mặt bằng thương mại tối đa 27 m2/hộ trong các dự án mới là những giải pháp rất giá trị để bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân Việt Nam.

Kết luận

  • Thu hồi 68,7 ha đất tại Đồng Kỵ thúc đẩy mạnh mẽ hạ tầng đô thị và dịch chuyển cơ cấu kinh tế thị xã Từ Sơn với công nghiệp - xây dựng chiếm tới 77,9%.
  • Nguồn vốn bồi thường 18,881 tỷ đồng đã tạo đòn bẩy tài chính quan trọng, giúp 150 hộ khảo sát nâng thu nhập bình quân đầu người từ 48,7 triệu lên 81,9 triệu đồng/người/năm.
  • Cảnh báo tỷ lệ người chưa có việc làm tăng từ 5,36% lên 9,05%, đặt ra yêu cầu cấp bách phải triển khai đào tạo nghề và tư vấn việc làm đi trước một bước.
  • Khoảng 80,7% hộ dân ghi nhận sự tiến bộ vượt bậc của hệ thống phúc lợi công cộng, song chính quyền cần sớm xử lý dứt điểm 20.000 m3 nước thải/ngày xả ra sông Ngũ Huyện Khê.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp liên hoàn giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng là đóng góp khoa học quan trọng nhất nhằm hiện thực hóa mục tiêu an sinh xã hội bền vững.

Đóng góp cốt lõi của công trình là cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện về sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và nguy cơ tổn thương sinh kế nông hộ trong làn sóng đô thị hóa. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2017 đến 2020, các cấp chính quyền cần lập tức thể chế hóa phương án đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động địa phương. Độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm hãy tiếp tục khai thác các phát hiện từ luận văn để hoàn thiện khung chính sách đất đai, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người dân chịu ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.