Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kết cấu hạ tầng tại Việt Nam gắn liền với việc thu hồi đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư. Để tạo mặt bằng cho các dự án xây dựng cụm công nghiệp và quy hoạch khu dân cư, việc thu hồi đất nông nghiệp là một thực tiễn phổ biến tại nhiều địa phương. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và là nguồn sinh kế cốt lõi của nông dân; do đó, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp tác động sâu sắc đến cơ cấu việc làm, tư liệu sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội của các nông hộ.
Xã Tiên Phong là một xã nằm ở vùng trung du bán sơn địa phía Đông Nam huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, có sông Tích chảy qua với diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu đất tự nhiên (217,47 ha). Trong những năm qua, quá trình thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện quy hoạch xây dựng cụm công nghiệp và chỉnh trang khu dân cư đã làm thu hẹp diện tích đất sản xuất bình quân đầu người, buộc các hộ dân phải chuyển dịch phương thức canh tác hoặc tìm kiếm các sinh kế phi nông nghiệp ngoài đồng ruộng. Nhằm làm rõ thực trạng này, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến hộ nông dân trên địa bàn xã Tiên Phong, Ba Vì, Hà Nội".
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá những tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến hộ nông dân mất đất, nhận diện những tồn tại trong công tác thu hồi đất, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị trong công tác thu hồi đất ở xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Mục tiêu cụ thể:
- Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp đến hộ nông dân bị mất đất.
- Thứ hai, phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Thứ ba, đánh giá những ảnh hưởng cụ thể của việc thu hồi đất nông nghiệp đến hộ nông dân bị mất đất tại địa bàn xã Tiên Phong.
- Thứ tư, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến hộ nông dân mất đất tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các cơ quan chức năng thực hiện công tác thu hồi đất và các hộ nông dân chịu sự tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã Tiên Phong.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các tác động của việc thu hồi đất đến nguồn lực đất đai, nguồn vốn bồi thường, trình độ lao động, cơ cấu việc làm và thu nhập của các hộ nông dân bị mất đất.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đánh giá sự biến động tại thời điểm trước khi thu hồi đất (năm 2011) và sau khi thu hồi đất (năm 2014), cùng số liệu khảo sát thực địa được thu thập vào năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và học thuyết về kinh tế nông hộ và cơ chế quản lý nhà nước về đất đai:
- Khái niệm hộ và kinh tế hộ nông dân: Khóa luận dẫn dụng quan niệm của Liên hợp quốc; định nghĩa tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980 (Nguyễn Văn Tiêm, 1993); định nghĩa hộ nông dân của Frank Ellis (Lê Đình Thắng, 1993), Đào Thế Tuấn (1997), Nguyễn Sinh Cúc (2001). Về lý thuyết phát triển kinh tế hộ, tác giả vận dụng luận điểm của A.V. Chayanov (Traianốp, 1924) về sự cân bằng lao động - tiêu dùng trong nông hộ; luận điểm của V.I. Lênin về cải tạo tiểu nông và năng lực tự quyết định của hộ gia đình; nghiên cứu của David (1903), Hemery và Margolin (1988) về tính ổn định và sự tồn tại tự chủ của kinh tế tiểu nông trong nền kinh tế thị trường.
- Khái niệm và bản chất pháp lý của thu hồi đất: Xác định thu hồi đất là biện pháp pháp lý thể hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước, làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai đối với người sử dụng đất để phục vụ lợi ích công cộng, an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Rà soát các quy định qua các giai đoạn từ Hiến pháp 1946, Luật Cải cách ruộng đất 1953, Nghị định số 151-TTg (1959), Thông tư liên bộ 1424/TTLB (1959), Hiến pháp 1980, Luật Đất đai 1988, Quyết định 186/HĐBT (1990), Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993, Luật sửa đổi các năm 1998, 2001 và Luật Đất đai 2003 cùng các nghị định thi hành (Nghị định 90/CP, 87/CP, 22/1998/NĐ-CP, 181/2004/NĐ-CP, 197/2004/NĐ-CP, 188/2004/NĐ-CP, 17/2006/NĐ-CP, 84/2007/NĐ-CP, 69/2009/NĐ-CP); Quyết định số 96/2011/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội về giá các loại đất và mức bồi thường, hỗ trợ.
Phương pháp nghiên cứu áp dụng:
- Phương pháp chọn điểm: Chọn xã Tiên Phong do đây là địa phương có truyền thống thuần nông, chịu tác động trực tiếp của việc thu hồi đất làm cụm công nghiệp và xây dựng cơ bản.
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ, bảng biểu thống kê năm 2018 của UBND xã Tiên Phong về hiện trạng đất đai, dân số, lao động và kinh tế - xã hội. Thu thập số liệu sơ cấp thông qua xây dựng phiếu điều tra (bảng hỏi) và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc thành viên am hiểu tình hình kinh tế của toàn bộ 62 hộ dân có đất nông nghiệp bị thu hồi trong giai đoạn 2011–2013 trên địa bàn xã.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp bảng biểu để phản ánh các chỉ tiêu nguồn lực, việc làm, thu nhập; phương pháp thống kê so sánh đối chiếu số liệu trước và sau thu hồi đất; phân tổ kinh tế hộ theo mức độ mất đất thành 2 nhóm: Nhóm I (thu hồi dưới 50% diện tích đất sản xuất, gồm 33 hộ) và Nhóm II (thu hồi từ 50% diện tích đất sản xuất trở lên, gồm 29 hộ).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp
Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế nông hộ và tác động của cơ chế thu hồi đất. Tác giả luận giải kinh tế hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng, có sự gắn kết chặt chẽ giữa các yếu tố đất đai, vốn và lao động gia đình. Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, tư liệu sản xuất chính bị tước bỏ hoặc thu hẹp sẽ phá vỡ tính ổn định của chu trình sản xuất truyền thống, tác động trực tiếp đến việc làm và sinh kế của nông dân. Chương 1 làm rõ các kênh tác động chủ yếu:
- Tác động đến nguồn lực: Giảm diện tích canh tác loại tốt, đòi hỏi phải tái cơ cấu nguồn vốn và lao động.
- Tác động đến việc làm: Trình độ học vấn của lao động nông thôn còn thấp khiến khả năng thích ứng, chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ gặp nhiều rào cản; hệ thống giới thiệu việc làm và đào tạo nghề chưa đáp ứng kịp thời.
- Tác động đến thu nhập và hạ tầng: Làm giảm thu nhập từ nông nghiệp nhưng tạo ra dòng tiền bồi thường bằng tiền mặt hoặc đất dịch vụ (đất 7%), mở ra cơ hội kinh doanh phi nông nghiệp hoặc gửi tiết kiệm, đồng thời kéo theo sự phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, thương mại.
- Tiến trình chính sách: Rà soát quá trình chuyển dịch chính sách bồi thường từ chỉ đền bù hoa màu, tài sản trên đất thời kỳ trước năm 1993 sang bồi thường theo giá đất, hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm và tái định cư theo Luật Đất đai 1993, 2003. Tác giả chỉ rõ hạn chế thực tiễn là công tác giải phóng mặt bằng thường chậm, việc đền bù chủ yếu dừng lại ở giá trị vật chất trước mắt mà chưa bảo đảm giải quyết sinh kế lâu dài cho người dân.
Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tại xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, TP Hà Nội
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện địa lý và thực trạng kinh tế - xã hội địa phương:
- Điều kiện tự nhiên: Xã Tiên Phong cách trung tâm huyện Ba Vì 4 km, cách trung đô Hà Nội 50 km; phía Bắc giáp thị trấn Tây Đằng và xã Chu Minh, phía Nam giáp xã Cam Thượng, phía Đông giáp xã Đông Quang, phía Tây giáp xã Thụy An. Địa hình trung du đồi gò bán sơn địa chia làm hai vùng: Tả ngạn sông Tích (đồi gò xen kẽ thung lũng, trằm hồ, ruộng bậc thang cao dưới 15 m) và Hữu ngạn sông Tích (chiếm 1/2 diện tích, tương đối bằng phẳng nhờ phù sa bồi đắp). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa tập trung từ tháng 3 đến tháng 8; sông Tích chảy qua xã với chiều dài 6,25 km.
- Hiện trạng đất đai năm 2017: Tổng diện tích tự nhiên của xã là 382,01 ha. Trong đó, đất nông nghiệp là 217,47 ha (chiếm 56,93% tổng diện tích), bao gồm đất sản xuất nông nghiệp 200,11 ha (đất trồng cây hàng năm 158,46 ha - chiếm 41,48%; đất trồng cây lâu năm 41,66 ha - chiếm 10,90%) và đất nuôi trồng thủy sản 17,36 ha (chiếm 4,54%). Đất phi nông nghiệp có 163,83 ha (chiếm 42,89%), gồm đất ở nông thôn 18,36 ha (4,81%), đất chuyên dùng 55,04 ha (14,41%), đất sông suối mặt nước 84,90 ha (22,22%), đất tôn giáo tín ngưỡng 2,14 ha, đất nghĩa trang 3,38 ha. Đất chưa sử dụng còn 0,71 ha (0,18%).
- Dân số và lao động: Năm 2017, toàn xã có 5.977 người (đoạn văn bản có ghi 5.990 người). Số người trong độ tuổi lao động là 4.415 người; trong đó lao động nông nghiệp - thủy sản chiếm 51,73% (2.415 người), thương mại - dịch vụ chiếm 28,00% (1.307 người), công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 20,27% (946 người). Dân số ngoài độ tuổi lao động có 1.322 người (chiếm 22,07%).
- Hạ tầng kỹ thuật: Đường trục xã có 11,53 km (bê tông hóa 61,2%); đường trục thôn dài 28,334 km (bê tông hóa 11,8%, đường đất 88,2%); đường ngõ xóm dài 17,35 km (bê tông hóa 1,76%, còn lại 17,06 km đường đất); đường trục chính nội đồng 12,949 km hoàn toàn là đường đất. Thủy lợi chủ động tưới tiêu cho 50% diện tích nhờ 7 trạm bơm và 29 cống, nhưng 3/4 cây cầu (cầu Gỗ, Kim Bí, Đá) đã xuống cấp, chỉ còn cầu Bằng Lũng hoạt động tốt. Xã có 5 trạm biến áp cấp điện cho 100% hộ dân.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (2015–2017): Tổng giá trị thu nhập toàn xã tăng từ 76 tỷ đồng (năm 2015) lên 91 tỷ đồng (năm 2017). Tỷ trọng nông nghiệp giảm mạnh từ 57,88% (2015) xuống 48,52% (2016) và còn 36,97% (năm 2017 với giá trị 44,324 tỷ đồng). Tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng từ 22,13% lên 26,01% và đạt 33,19% năm 2017. Tỷ trọng thương mại - dịch vụ tăng từ 19,99% lên 25,47% và đạt 29,84% năm 2017. Về sản xuất nông nghiệp, diện tích lúa gieo trồng đạt 261,4 ha/vụ, năng suất 108,7 tạ/ha, sản lượng đạt giá trị 2,6 tỷ đồng; cây ăn quả có diện tích 226,2 ha (vải, nhãn, mít, trám...) đạt giá trị 18,09 tỷ đồng. Đàn lợn có 3.728 con (sản lượng 394 tấn, giá trị 8,6 tỷ đồng/lứa), đàn gia cầm có 158.000 con (giá trị 0,7 tỷ đồng).
Chương 3: Thực trạng tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến các hộ dân trên địa bàn xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, Hà Nội
Chương 3 trình bày các phát hiện rút ra từ phân tích hồ sơ quản lý và số liệu khảo sát thực địa:
- Quy mô thu hồi đất (2011–2013): Toàn xã đã tiến hành thu hồi 22.047 m2 đất nông nghiệp của 62 hộ dân. Năm 2011 thu hồi 11.740 m2 (34 hộ); năm 2012 thu hồi 7.829 m2 (21 hộ); năm 2013 thu hồi 2.478 m2 (7 hộ). Đất bị thu hồi chủ yếu là đất chuyên trồng lúa nước với 21.370 m2 (chiếm 96,93% tổng diện tích thu hồi), đất trồng cây hàng năm khác chỉ chiếm 677 m2 (3,07%).
- Đặc điểm nhân khẩu và trình độ học vấn của 62 hộ điều tra (năm 2018): Có 17 hộ thuần nông (27,42%), 32 hộ ngành nghề (51,61%), 13 hộ buôn bán (20,97%). Tổng nhân khẩu là 217 người; độ tuổi bình quân của chủ hộ là 47 tuổi. Tổng số lao động là 148 người, gồm 46 lao động nông nghiệp (31,08%), 91 lao động phi nông nghiệp (61,49%) và 11 lao động kiêm nhiệm (7,43%). Trình độ văn hóa của chủ hộ tập trung ở mức thấp: cấp tiểu học và THCS chiếm 74,19% (46 người), THPT chiếm 19,35% (12 người), sơ cấp và trung cấp chiếm 6,46% (4 người), không có chủ hộ nào có trình độ đại học hoặc cao đẳng.
- Biến động đất đai giữa các nhóm hộ:
- Nhóm I (thu hồi < 50% đất sản xuất, 33 hộ): Tổng diện tích ban đầu là 35.640 m2 (bình quân 1.080 m2/hộ); bị thu hồi 6.518 m2 (bình quân 198 m2/hộ); diện tích đất còn lại là 29.122 m2 (bình quân 882 m2/hộ).
- Nhóm II (thu hồi >= 50% đất sản xuất, 29 hộ): Tổng diện tích ban đầu là 31.320 m2 (bình quân 1.080 m2/hộ); diện tích bị thu hồi là 15.529 m2 (chiếm 70,43% tổng diện tích đất bị thu hồi của cả xã, bình quân mất 535 m2/hộ); diện tích còn lại là 15.791 m2 (bình quân 470 m2/hộ).
- Thực trạng sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ (tổng số tiền khảo sát 607 triệu đồng): Mua đất ở chiếm 26,85% (163 triệu đồng); xây dựng, sửa chữa nhà ở chiếm 25,70% (156 triệu đồng); mua sắm tiện nghi gia đình chiếm 17,63% (107 triệu đồng); tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh chiếm 15,65% (95 triệu đồng); gửi tiết kiệm ngân hàng chiếm 5,44% (33 triệu đồng); mua bán dịch vụ chiếm 3,79% (23 triệu đồng); chi phí học nghề và học văn hóa chỉ chiếm 2,47% (15 triệu đồng); chi tiêu sinh hoạt hàng ngày chiếm 2,47% (15 triệu đồng).
- Biến động lao động và việc làm: Sau thu hồi đất, tổng lao động tăng từ 144 lên 148 người. Lao động làm nông nghiệp giảm mạnh từ 80 người (55,56%) xuống 46 người (31,08%); lao động làm công nhân tăng từ 23 người (15,97%) lên 51 người (34,46%); lao động buôn bán, kinh doanh tăng từ 14 người (9,72%) lên 26 người (17,57%); lao động làm thuê mướn thời vụ tăng từ 8 người (5,56%) lên 14 người (9,46%); số lao động thất nghiệp tăng từ 2 lên 6 người. Đáng chú ý, chỉ có 16 lao động của các hộ mất đất được làm việc tại cụm công nghiệp địa phương và đều do cá nhân tự tìm kiếm. Cơ cấu hộ chuyển biến: hộ nông nghiệp giảm từ 50 hộ (80,64%) xuống 35 hộ (56,45%), hộ kiêm tăng từ 12 hộ (19,36%) lên 27 hộ (43,55%).
- Biến động thu nhập: Có 53 hộ (85,48%) cho biết thu nhập tăng lên và 9 hộ (14,52%) có thu nhập không tăng. Xét theo nguồn thu bình quân: thu nhập từ trồng lúa giảm 2,36 triệu đồng/vụ (từ 4,22 triệu xuống 1,86 triệu đồng); thu nhập từ rau màu giảm 15,61 triệu đồng/năm (từ 30,12 triệu xuống 14,51 triệu đồng); thu nhập từ cây lâu năm giảm 8,98 triệu đồng/năm (từ 31,22 triệu xuống 22,24 triệu đồng); thu nhập từ chăn nuôi giảm nhẹ (lợn giảm 0,23 triệu, trâu bò giảm 0,58 triệu, gia cầm giảm 0,56 triệu đồng/năm). Ngược lại, thu nhập từ tiền lương, tiền công tăng 2,53 triệu đồng/tháng (từ 3,12 triệu lên 5,65 triệu đồng); thu nhập từ buôn bán kinh doanh tăng 2,93 triệu đồng/tháng (từ 3,55 triệu lên 6,48 triệu đồng).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận lượng hóa chi tiết mức độ tác động của quá trình thu hồi đất đối với các hộ nông dân tại xã Tiên Phong qua hệ thống chỉ tiêu so sánh tổng hợp:
| Nhóm chỉ tiêu |
Trước thu hồi đất |
Sau thu hồi đất |
Mức độ biến động |
| Quy mô đất đai bình quân (m2/hộ) |
|
|
|
| - Nhóm I (mất < 50% đất sản xuất) |
1.080 |
882 |
Giảm 198 m2/hộ (-18,33%) |
| - Nhóm II (mất >= 50% đất sản xuất) |
1.080 |
470 |
Giảm 535 m2/hộ (-49,54%) |
| Cơ cấu việc làm của người lao động (%) |
|
|
|
| - Lao động nông nghiệp |
55,56 (80 người) |
31,08 (46 người) |
Giảm 24,48% (-34 người) |
| - Công nhân công nghiệp |
15,97 (23 người) |
34,46 (51 người) |
Tăng 18,49% (+28 người) |
| - Buôn bán, kinh doanh |
9,72 (14 người) |
17,57 (26 người) |
Tăng 7,85% (+12 người) |
| - Lao động làm thuê, mướn |
5,56 (8 người) |
9,46 (14 người) |
Tăng 3,90% (+6 người) |
| - Lao động thất nghiệp (người) |
2 |
6 |
Tăng 4 người |
| Phân loại kinh tế hộ (Hộ) |
|
|
|
| - Hộ nông nghiệp |
50 (80,64%) |
35 (56,45%) |
Giảm 15 hộ |
| - Hộ kiêm ngành nghề, dịch vụ |
12 (19,36%) |
27 (43,55%) |
Tăng 15 hộ |
| Thu nhập bình quân hộ gia đình |
|
|
|
| - Trồng lúa (triệu đồng/vụ) |
4,22 |
1,86 |
Giảm 2,36 triệu đồng/vụ |
| - Rau màu (triệu đồng/năm) |
30,12 |
14,51 |
Giảm 15,61 triệu đồng/năm |
| - Cây lâu năm (triệu đồng/năm) |
31,22 |
22,24 |
Giảm 8,98 triệu đồng/năm |
| - Tiền lương, tiền công (triệu đồng/tháng) |
3,12 |
5,65 |
Tăng 2,53 triệu đồng/tháng |
| - Buôn bán kinh doanh (triệu đồng/tháng) |
3,55 |
6,48 |
Tăng 2,93 triệu đồng/tháng |
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Hoàn thiện chính sách bồi thường và hỗ trợ: Điều chỉnh khung giá bồi thường đất sát với giá trị kinh tế thực tế; gắn bồi thường đất đai với các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội và việc làm lâu dài, tránh tình trạng chỉ chi trả tiền mặt một lần.
- Định hướng và tư vấn quản lý nguồn vốn bồi thường: Chính quyền địa phương cần hướng dẫn người dân phân bổ tiền bồi thường hợp lý vào các hoạt động tái sản xuất, kinh doanh dịch vụ hoặc gửi tiết kiệm, hạn chế chi tiêu dồn dập vào việc mua sắm tài sản tiêu dùng cá nhân dẫn đến cạn kiệt tài chính.
- Đổi mới công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm: Khắc phục tình trạng đào tạo nghề mang tính hình thức, không phù hợp nhu cầu tuyển dụng; thiết lập cơ chế liên kết giữa chính quyền địa phương, chủ đầu tư cụm công nghiệp và người dân nhằm ưu tiên tuyển dụng lao động thuộc diện mất đất sản xuất.
- Tổ chức lại sản xuất trên diện tích đất còn lại: Đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa, đưa giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao vào thâm canh nhằm nâng cao giá trị thu hoạch trên đơn vị diện tích còn lại.
Đóng góp của khóa luận:
Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực tế về tác động của chính sách thu hồi đất nông nghiệp tại một xã bán sơn địa của Hà Nội. Tác giả tự chỉ ra đóng góp ở việc lượng hóa được hành vi phân bổ tiền bồi thường của nông dân, chứng minh được sự chuyển dịch cơ cấu thu nhập từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đồng thời phản ánh khách quan rào cản về trình độ học vấn (74,19% chủ hộ chỉ học hết tiểu học/THCS) và khoảng trống kết nối giữa khu công nghiệp địa phương với lực lượng lao động mất đất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu điều tra toàn bộ 62 hộ bị thu hồi đất tại một địa bàn cấp xã (xã Tiên Phong, huyện Ba Vì) trong giai đoạn 2011–2013, do đó tính đại diện chưa bao quát cho các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của thành phố Hà Nội. Số liệu thứ cấp phục vụ đánh giá phụ thuộc vào các báo cáo năm 2018 của xã, việc đối chiếu giữa các mốc thời gian 2011, 2014 và 2018 dựa chủ yếu vào phương pháp phỏng vấn hồi cố của người dân.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi đánh giá so sánh tác động giữa các xã vùng đồng bằng thuần nông và các xã vùng trung du, miền núi của huyện Ba Vì; thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá tính bền vững sinh kế của nhóm hộ bị thu hồi trên 50% đất sản xuất sau chu kỳ 10 năm.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển và Xã hội học nông thôn; đồng thời là nguồn tư liệu thực tế cho cán bộ địa chính, ban bồi thường giải phóng mặt bằng cấp huyện và UBND cấp xã.
- Các nội dung có giá trị tham khảo cụ thể:
- Phương pháp phân tổ nông hộ theo tỷ lệ diện tích đất thu hồi (< 50% và >= 50%) để so sánh mức độ tổn thương sinh kế.
- Số liệu chi tiết về cơ cấu phân bổ khoản tiền bồi thường đất đai của nông dân (Bảng 3.6), hữu ích cho việc xây dựng chính sách tư vấn tài chính vi mô sau thu hồi đất.
- Bảng ma trận đối sánh biến động lao động, cơ cấu việc làm và chi tiết các nguồn thu nhập trước - sau thu hồi đất (Bảng 3.7 và 3.10).
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 2011–2013, xã Tiên Phong đã thu hồi bao nhiêu diện tích đất nông nghiệp và tập trung vào loại đất nào?
Tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn xã Tiên Phong là 22.047 m2 của 62 hộ dân. Đất thu hồi chủ yếu là đất chuyên trồng lúa nước với 21.370 m2 (chiếm 96,93% tổng diện tích thu hồi), đất trồng cây hàng năm khác chỉ có 677 m2 (chiếm 3,07%).
2. Mức giá bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp áp dụng tại địa phương được tính như thế nào?
Do xã Tiên Phong thuộc phân loại xã vùng trung du của huyện Ba Vì, mức giá bồi thường và hỗ trợ được tính theo Quyết định số 96/2011/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội: Đất trồng lúa nước và cây hàng năm được bồi thường 108.800 đồng/m2; đất trồng cây lâu năm là 126.400 đồng/m2; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm là 540.000 đồng/m2; thưởng bàn giao mặt bằng đúng thời hạn là 3.000 đồng/m2. Đối với đất không có hồ sơ chứng từ chứng minh chi phí đầu tư vào đất còn lại, mức hỗ trợ là 50.000 đồng/m2 (đất lúa nước), 35.000 đồng/m2 (đất cây lâu năm) và 25.000 đồng/m2 (đất thủy sản).
3. Các hộ nông dân khảo sát đã sử dụng số tiền bồi thường, hỗ trợ 607 triệu đồng vào những mục đích gì?
Cơ cấu sử dụng 607 triệu đồng tiền bồi thường của 62 hộ điều tra như sau: Mua đất ở chiếm 26,85% (163 triệu đồng); xây dựng và sửa chữa nhà cửa chiếm 25,70% (156 triệu đồng); mua sắm đồ dùng tiện nghi gia đình chiếm 17,63% (107 triệu đồng); đầu tư vào sản xuất kinh doanh chiếm 15,65% (95 triệu đồng); gửi tiết kiệm chiếm 5,44% (33 triệu đồng); kinh doanh dịch vụ chiếm 3,79% (23 triệu đồng); chi cho học nghề, học văn hóa chiếm 2,47% (15 triệu đồng); chi tiêu sinh hoạt hàng ngày chiếm 2,47% (15 triệu đồng).
4. Cơ cấu việc làm của người lao động trong các hộ bị mất đất biến động ra sao?
Sau khi thu hồi đất, tỷ trọng lao động làm nông nghiệp giảm mạnh từ 55,56% (80 người) xuống còn 31,08% (46 người). Ngược lại, lao động chuyển sang làm công nhân tăng từ 15,97% (23 người) lên 34,46% (51 người); buôn bán, kinh doanh tăng từ 9,72% (14 người) lên 17,57% (26 người); làm thuê mướn tăng từ 5,56% (8 người) lên 9,46% (14 người); số người thất nghiệp tăng từ 2 lên 6 người. Ngoài ra, chỉ có 16 lao động của các hộ bị thu hồi đất được tuyển dụng vào cụm công nghiệp và đều do gia đình tự tìm kiếm.
5. Xu hướng biến động thu nhập bình quân của hộ dân sau khi bị thu hồi đất diễn ra theo chiều hướng nào?
Có 85,48% số hộ khảo sát (53 hộ) có thu nhập tăng lên và 14,52% số hộ (9 hộ) có thu nhập không tăng. Xét theo cơ cấu thu nhập bình quân, các nguồn thu từ nông nghiệp sụt giảm nghiêm trọng: thu nhập từ lúa giảm 2,36 triệu đồng/vụ, rau màu giảm 15,61 triệu đồng/năm, cây lâu năm giảm 8,98 triệu đồng/năm. Bù lại, thu nhập phi nông nghiệp gia tăng đáng kể: tiền lương và tiền công tăng từ 3,12 triệu lên 5,65 triệu đồng/tháng (tăng 2,53 triệu đồng/tháng); thu nhập từ buôn bán, kinh doanh tăng từ 3,55 triệu lên 6,48 triệu đồng/tháng (tăng 2,93 triệu đồng/tháng).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả tại Trường Đại học Lâm nghiệp đã phản ánh toàn diện thực trạng thu hồi 22.047 m2 đất nông nghiệp và đánh giá sự biến động sinh kế của 62 hộ dân trên địa bàn xã Tiên Phong, huyện Ba Vì. Quá trình mất đất sản xuất đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông hộ từ thuần nông sang làm công nhân và kinh doanh dịch vụ, kéo theo sự sụt giảm nguồn thu trồng trọt nhưng làm gia tăng thu nhập từ tiền lương phi nông nghiệp. Mặc dù đa số các hộ ghi nhận tổng thu nhập có cải thiện, nghiên cứu chỉ ra những rủi ro dài hạn khi nguồn tiền bồi thường chủ yếu phục vụ tiêu dùng cá nhân, tỷ lệ đầu tư cho học nghề rất thấp và sự kết nối việc làm tại chỗ của cụm công nghiệp còn nhiều hạn chế. Những số liệu thực chứng và đề xuất từ khóa luận cung cấp cơ sở thực tiễn hữu ích cho việc hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề và ổn định đời sống cho nông dân trong quá trình đô thị hóa.