Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Làng xã và văn hóa làng xã là đối tượng nghiên cứu trọng tâm trong tiến trình tìm hiểu lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam. Trong cấu trúc liên kết hữu cơ "Nhà - Làng - Nước", làng xã truyền thống tại đồng bằng sông Hồng giữ vai trò là cái nôi bảo lưu các giá trị đạo đức, tâm linh, phong tục tập quán và cố kết cộng đồng. Trong các giai đoạn lịch sử khi sự can thiệp của chính quyền trung ương còn gián tiếp, tính tự trị của làng xã được đề cao thông qua hệ thống lệ làng thành văn, tức Hương ước. Thiết chế này đóng vai trò điều chỉnh mọi mặt đời sống sinh hoạt, tạo nên trật tự xã hội sau lũy tre làng.

Bước vào giai đoạn đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đồng bằng sông Hồng - với tư cách là khu vực kinh tế trọng điểm và là vựa lúa lớn thứ hai cả nước - đang trải qua quá trình đô thị hóa nông thôn sâu sắc. Sự chuyển dịch này một mặt mang lại bước phát triển về kinh tế, mặt khác làm nảy sinh nhiều xung đột xã hội phức tạp: tình trạng tranh chấp đất đai dẫn đến khiếu kiện; sự xói mòn của nhiều thuần phong mỹ tục; sự phục hồi của các biểu hiện phô trương, lãng phí trong việc xây cất mồ mả, phục dựng đình chùa, nhà thờ họ, cưới xin xa hoa; sự trỗi dậy của các hủ tục tang ma, cờ bạc, nghiện hút và mê tín dị đoan. Trước thực trạng đó, việc các cấp chính quyền cơ sở kế thừa có chọn lọc các giá trị của hương ước cổ truyền để xây dựng "Hương ước mới" (Quy ước làng văn hóa) nhằm củng cố an ninh trật tự và nếp sống văn hóa đã trở thành một đòi hỏi cấp thiết.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là phân tích sự biến đổi của tính tự trị làng xã thông qua Hương ước ở đồng bằng sông Hồng hiện nay; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của tính tự trị làng xã biểu hiện qua sự biến đổi của Hương ước. Để thực hiện mục đích này, tác giả đặt ra 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của làng xã đồng bằng sông Hồng.
  2. Làm rõ đặc điểm làng xã và văn hóa làng xã truyền thống ở đồng bằng sông Hồng.
  3. Chỉ ra đặc trưng tính tự trị biểu hiện qua Hương ước ở làng xã đồng bằng sông Hồng.
  4. Phân tích sự biến đổi của tính tự trị làng xã đồng bằng sông Hồng qua Hương ước hiện nay.
  5. Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy những giá trị tích cực của Hương ước trong việc thực hiện tính tự chủ, tự quản của cộng đồng làng xã, góp phần xây dựng nông thôn mới tiến bộ.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự biến đổi của tính tự trị làng xã. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở tính tự trị của làng xã biểu hiện qua Hương ước tại khu vực đồng bằng sông Hồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với việc quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng nông thôn mới và phát triển văn hóa làng xã nông thôn.

Về mặt tổng quan học thuật, khóa luận kế thừa hệ thống tư liệu và luận điểm từ các công trình nghiên cứu đi trước về làng xã và hương ước của các tác giả tiêu biểu:

  • Nghiên cứu về kết cấu kinh tế, cơ cấu tổ chức và tính tự quản làng xã: Phan Đại Doãn (Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - xã hội, bài báo Mấy vấn đề về làng xã); Trần Từ (Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ); Diệp Đình Hoa (Tìm hiểu làng Việt); Nguyễn Thị Vân (Tính tự quản của làng Việt Nam truyền thống đồng bằng sông Hồng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay).
  • Nghiên cứu về sự biến đổi làng xã và văn hóa nông thôn đương đại: Tô Duy Hợp (Sự biến đổi của làng xã Việt Nam hiện nay, Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng); Nguyễn Duy Quý (Văn hóa làng và sự phát triển); Lê Quý Đức (Bản sắc văn hóa làng trong xây dựng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ).
  • Nghiên cứu chuyên khảo về hương ước cổ và hương ước mới: Bùi Xuân Đính (Hương ước và quản lý làng xã, Lệ làng phép nước, Về một số Hương ước làng Việt ở đồng bằng Bắc bộ); Vũ Duy Mền (Tìm lại làng Việt xưa, Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc Bộ); Nguyễn Huy Tính (Hương ước mới - một phương tiện góp phần quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay).

Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Triết học và liên ngành Khoa học xã hội, bao gồm:

  • Phương pháp logic và lịch sử: nhằm theo dõi sự hình thành, phát triển và biến đổi của thiết chế hương ước qua các thời kỳ lịch sử.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: mổ xẻ các điều khoản hương ước cụ thể và quy nạp thành các đặc trưng triết học xã hội.
  • Phương pháp đối chiếu so sánh: đối chiếu giữa hương ước cổ truyền và quy ước văn hóa hiện nay, so sánh quy định giữa các làng xã.

Nguồn dữ liệu được khai thác từ các văn bản hương ước cổ tiêu biểu (Điều lệ xã Bằng Trang năm 1682, Khoán ước xã Dương Liễu năm 1691, Hương ước làng Phù Liệt, Hùng Nhĩ, Văn Điển, Phù Xá Đoài, Kiêu Kỵ, Đại Tài...) cùng các bản Quy ước thôn/làng văn hóa đương đại và số liệu địa lý, kinh tế - xã hội khu vực đồng bằng sông Hồng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Khái quát về làng xã ở đồng bằng sông Hồng

Chương 1 làm rõ các tiền đề tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và cấu trúc tổ chức tạo nên tính tự trị của làng xã truyền thống thông qua phân tích thiết chế hương ước cổ.

Khu vực đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh, thành phố (Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh), có diện tích khoảng 15.000 km², chiếm 4,6% diện tích cả nước, trải dài từ 19°5'B đến 21°34'B và từ 105°17'Đ đến 107°Đ. Đất nông nghiệp chiếm trên 70 vạn ha (56% diện tích tự nhiên). Khí hậu nhiệt đới gió mùa (nhiệt độ trung bình 22,5 - 23,5 °C, lượng mưa 1.400 - 2.000 mm) cùng mạng lưới sông Hồng và sông Thái Bình tạo điều kiện phát triển nông nghiệp lúa nước, nhưng mùa khô dòng chảy chỉ còn 20 - 30% lượng nước cả năm, buộc cư dân phải hợp sức trị thủy. Lối sống gắn bó với nghề nông, chợ phiên làng quê và các lễ hội dân gian hình thành nên tính cách quần tụ, gắn kết cộng đồng cao.

Làng xã cổ truyền đồng bằng sông Hồng mang cấu trúc không gian khép kín (lũy tre, cổng làng, giếng nước, đình, chùa, miếu) với ba đặc trưng cơ bản chi phối:

  1. Tính cộng đồng: Xuất phát từ nhu cầu thời vụ và chống thiên tai; gắn bó chặt chẽ qua quan hệ láng giềng ngõ xóm và dòng họ. Biểu tượng là cây đa, bến nước, sân đình. Ưu điểm là đoàn kết, tương trợ; hạn chế là tạo tâm lý tiểu nông, thói cào bằng, đố kỵ và triệt tiêu tính chủ động cá nhân.
  2. Tính tự trị: Xuất phát từ sự độc lập tương đối giữa các làng và với chính quyền trung ương; mỗi làng như một "vương quốc thu nhỏ" vận hành theo lệ làng riêng ("Phép vua thua lệ làng"). Biểu tượng là lũy tre và cổng làng. Ưu điểm là bảo tồn bản sắc văn hóa; hạn chế là sinh ra tâm lý bè phái, cục bộ địa phương.
  3. Tính hướng nội: Xuất phát từ nền kinh tế tự cấp tự túc, tạo nên tính bảo thủ, khép kín, "chuông làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ".

Cơ sở hình thành tính tự trị gồm: làng xã có cách thức quản lý riêng biệt theo góc độ dân tộc học - pháp luật; làng xã ra đời trước nhà nước; nhà nước phong kiến chỉ quản lý gián tiếp (thu thuế, bắt lính, lao dịch) thông qua làng xã chứ không quản lý trực tiếp từng cá nhân. Biểu hiện tập trung nhất của tính tự trị là Hương ước cổ - bộ lệ làng thành văn xuất hiện từ thời Lý - Trần và phổ biến từ cuối thế kỷ XV. Nội dung cơ bản của Hương ước cổ bao quát mọi lĩnh vực:

Lĩnh vực điều chỉnh Nội dung quy định tiêu biểu trong Hương ước cổ Dẫn chứng văn bản trong khóa luận
Ruộng đất công và thuế khóa Quy định chia công điền định kỳ 3 đến 6 năm/lần cho dân đinh do Hội đồng kỳ mục/tộc biểu quyết định độc lập với lý trưởng. - Điều lệ xã Bằng Trang (1682): 235 mẫu công điền, 2 năm chia 1 lần.
- Khoán ước xã Dương Liễu (1691): 12 điều về ruộng công.
- Hương ước làng Phù Liệt: 82 mẫu 2 miếng công thổ, trích 12 mẫu 9 sào cúng thần phật, còn lại chia đều cho đinh nam 18-60 tuổi, 3 năm cấp 1 lần.
Tín ngưỡng, tôn giáo Quy định tế lễ Thành hoàng, Phật giáo, tín ngưỡng Tam tòa Thánh Mẫu, thờ thần Nông, tổ nghề và bầu hậu thần. - Hương ước làng Kiêu Kỵ: thờ Thần Nông, tổ nghề vàng bạc Nguyễn Quý Trị, danh tướng Nguyễn Chế Nghĩa.
- Hương ước làng Đại Tài: quy định cụ thể ngày giỗ các vị hậu thần hiến tài sản.
Nếp sống văn hóa, hôn nhân, tang ma Kiểm soát hành vi ứng xử; tục nộp cheo bắt buộc để công nhận hôn nhân hợp pháp; tục cỗ bàn trả nợ miệng nặng nề trong tang lễ. - Tục nộp cheo: cheo nội (trai gái cùng làng: 4 đồng, 100 khẩu trầu), cheo ngoại (lấy người ngoài làng: 5 đồng, 200 khẩu trầu); trễ 8 ngày phạt 4 hào.
- Tang tế: lệ làm cỗ "trả bữa cho dân" mới được chống gậy, hết tang.
Trật tự trị an, tuần phòng Tổ chức tuần đinh, tuần phòng đồng ruộng và xóm làng, canh gác cổng làng, thưởng phạt nghiêm ngặt bằng tiền quan. - Hương ước làng Văn Điển: 3 giáp chọn 12 trương tuần, 2 thủ phiên; vắng phạt 2 quan; bị thương cấp 10-15 quan, chết cấp 50 quan và con trai miễn tạp dịch suốt đời; bắt trộm thưởng 20 quan; thu thóc sương 1-2 liễm/sào.
- Hương ước làng Phù Xá Đoài: phân lượt canh gác cổng làng sáng tối.
Đạo lý gia đình, khuyến học Trừng phạt con cái bất hiếu, cờ bạc; khuyến khích học hành, khoa cử, miễn sưu thuế cho người chuyên tâm đèn sách. Quy định miễn đóng góp sưu thuế cho người đi học; đình chỉ miễn trừ nếu phát hiện vừa đi học vừa đi cày để răn việc không chăm học.

Tiểu kết chương 1 khẳng định Hương ước cổ đóng vai trò là "Cương lĩnh tinh thần" điều chỉnh các hoạt động của làng xã, củng cố tính tự quản, duy trì trật tự khi luật pháp triều đình chưa bao quát tới, song cũng dung dưỡng các hủ tục và tính cục bộ địa phương.

Chương 2. Tính tự trị của làng xã đồng bằng sông Hồng thông qua Hương ước hiện nay: Thực trạng & giải pháp

Chương 2 luận giải quá trình tái lập và biến đổi của hương ước trong đời sống đương đại, chỉ ra sự chuyển biến trong các mặt quy định và định hướng giải pháp.

Về bối cảnh lịch sử, đầu thế kỷ XX, chính quyền thực dân Pháp thực hiện cuộc "Cải lương hương chính", ban hành "Hương ước mẫu" nhằm can thiệp sâu vào làng xã. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do quan niệm hương ước là sản phẩm phong kiến lạc hậu nên Nhà nước không chủ trương xây dựng hương ước ở nông thôn. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), sự chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường đã làm phục hồi các nhu cầu văn hóa tâm linh truyền thống, song việc xóa bỏ bao cấp văn hóa cũng khiến thiết chế cơ sở khó khăn, dẫn đến sự trỗi dậy của tệ nạn cờ bạc, mê tín, hủ tục. Nhằm quản lý xã hội nông thôn, chính quyền các địa phương đã chỉ đạo khôi phục và xây dựng Hương ước mới (Quy ước làng văn hóa).

Cấu trúc điển hình của các bản Hương ước mới tại đồng bằng sông Hồng gồm 5 chương (hoặc chia 3 phần lớn):

  • Chương 1: Nguyên tắc chung (lịch sử, truyền thống cách mạng, bối cảnh kinh tế - xã hội).
  • Chương 2: Quy định về lễ nghi, tôn giáo (trọng tâm là quản lý lễ hội).
  • Chương 3: Quy định về nếp sống văn hóa nói chung (xây dựng Gia đình văn hóa, việc cưới, việc tang).
  • Chương 4: Đạo lý gia đình và xã hội.
  • Chương 5: An ninh trật tự, bảo vệ môi trường và Điều khoản thi hành.

Do quá trình đô thị hóa và thay đổi chế độ quản lý đất đai, trong các bản hương ước mới không còn các điều khoản phân chia ruộng đất công hay kinh tế như xưa. Sự biến đổi của tính tự trị thể hiện rõ qua các nội dung:

  • Quy định về lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng: Quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo; việc thờ cúng Thành hoàng, tổ tiên, tôn tạo đình đền chùa miếu mạo vẫn được nhân dân tự giác gìn giữ. Tuy nhiên, cách thức tổ chức lễ hội có sự biến đổi lớn: không gian làng xã truyền thống biến dạng, việc tổ chức có sự định hướng, quản lý trực tiếp của chính quyền địa phương thay vì hoàn toàn do các phe giáp luân phiên như trước; lễ hội mở rộng giao lưu đón khách thập phương và gắn liền với các dịch vụ kinh tế, tính khép kín của tự trị làng xã bị phá vỡ theo hướng cởi mở, hội nhập.
  • Quy định về nếp sống văn hóa (cưới, tang, giỗ tổ): Trong giỗ tổ, ruộng hương hỏa không còn nên việc tế tự dựa trên sự đóng góp định kỳ của các thành viên dòng họ, xuất hiện xu hướng phục dựng từ đường và xây cất nghĩa trang dòng họ. Trong việc cưới, tục nộp cheo bị bãi bỏ hoàn toàn, nghi lễ được tổ chức phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, duy trì quà "mừng đỡ" giúp đỡ đôi vợ chồng mới. Trong việc tang, duy trì đạo lý "sống gửi thác về", tinh thần tương thân tương ái, nhưng các bản quy ước mới tập trung vận động loại bỏ hủ tục ăn uống cỗ bàn linh đình ("trả nợ miệng").
  • Đạo lý gia đình, trật tự trị an, hạn chế và giải pháp: Khóa luận chỉ ra các hạn chế còn tồn tại như tính hình thức ở một số bản quy ước, tâm lý cục bộ dòng họ, phô trương trong việc xây lăng mộ lấn chiếm đất canh tác. Từ đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp: hoàn thiện cơ chế xây dựng hương ước mới có sự tham gia dân chủ của người dân; kết hợp hài hòa giữa pháp luật nhà nước và lệ làng; nâng cao hiệu lực giám sát của các đoàn thể để phát huy vai trò tự quản tích cực trong phong trào xây dựng nông thôn mới.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp nghiên cứu cụ thể:

  • Làm sáng tỏ bản chất triết học xã hội của tính tự trị làng xã đồng bằng sông Hồng: Khẳng định tính tự trị là sản phẩm biện chứng của điều kiện địa lý - sinh thái nông nghiệp lúa nước và phương thức quản lý gián tiếp của nhà nước phong kiến xưa, biểu hiện cô đọng qua thiết chế hương ước.
  • Khái quát hóa sự vận động lịch sử của thiết chế Hương ước: Phân tích tiến trình từ hương ước cổ truyền (mang tính khép kín, phân chia đẳng cấp, tự cấp tự túc) qua giai đoạn gián đoạn sau 1945, đến sự phục hưng dưới hình thức Quy ước làng văn hóa từ sau năm 1986.
  • Nhận diện sự biến đổi cấu trúc và chức năng của hương ước đương đại: Chỉ rõ sự rút lui của các điều khoản kinh tế - ruộng đất công trong hương ước mới để chuyển dịch trọng tâm sang điều chỉnh hành vi văn hóa, chuẩn mực đạo đức gia đình, nếp sống văn minh và an ninh môi trường.
  • Hệ thống hóa giải pháp quản lý: Đề xuất phương hướng kết hợp giữa "phép nước" (tính nghiêm minh của luật pháp) và "lệ làng" (tính tự giác, đồng thuận của quy ước văn hóa), nhằm khắc phục hiện tượng phục hồi hủ tục, phát huy sức mạnh tự quản của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận chủ yếu tiếp cận ở góc độ phân tích tư liệu văn bản học và lý luận triết học xã hội; dung lượng khảo cứu điền dã thực chứng và các số liệu điều tra xã hội học định lượng về tỷ lệ thực hiện hương ước tại các địa phương cụ thể còn ở mức độ khiêm tốn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát xã hội học thực nghiệm về tác động của quy ước làng văn hóa tại các khu vực ven đô chịu áp lực đô thị hóa cao; đối chiếu so sánh tính tự trị của làng xã đồng bằng sông Hồng với làng xã ở đồng bằng sông Cửu Long hoặc các bản làng vùng cao phía Bắc.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Triết học, Triết học văn hóa, Xã hội học, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam và Quản lý văn hóa.
  • Cán bộ làm công tác văn hóa - thông tin, quản lý nhà nước tại cấp cơ sở (xã, thôn, làng) trong việc rà soát, biên soạn và điều chỉnh nội dung các bản Quy ước thôn/làng văn hóa.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống dẫn chứng văn bản hương ước cổ về chế độ phân chia ruộng đất công (Bằng Trang, Phù Liệt), quy chế tuần phòng trị an (Văn Điển), tục nộp cheo và cấu trúc 5 chương của bản Quy ước làng văn hóa đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo bản hương ước xã Văn Điển được tác giả dẫn chứng, việc tuần phòng trị an và chế độ đãi ngộ được quy định như thế nào?
Hương ước xã Văn Điển quy định 3 giáp cử 12 người trương tuần, 2 thủ phiên phối hợp cùng lý dịch tuần tra. Người vắng mặt bị phạt 2 quan tiền sung công. Nếu chống cự kẻ gian bị thương nặng được cấp 15 quan, bị thương nhẹ cấp 10 quan; nếu thiệt mạng được cấp 50 quan và con trai được trừ tạp dịch suốt đời. Người bắt sống kẻ gian được thưởng 20 quan, đâm bị thương được thưởng 10 quan. Đội tuần được thu thóc sương để bù đắp công sức: nội canh thu 1 liễm/sào (6 nắm), ngoại canh thu 2 liễm/sào (12 nắm).

2. Tục nộp cheo trong hôn nhân truyền thống ở làng xã đồng bằng sông Hồng gồm những loại nào và mức nộp ra sao?
Hương ước cổ phân chia tiền cheo thành hai loại: cheo nội (trai gái cùng làng lấy nhau) và cheo ngoại (gái làng lấy chồng thiên hạ/ngoài làng). Mức nộp cheo ngoại thường gấp đôi hoặc gấp ba cheo nội. Trong giai đoạn cải lương hương chính, mức nộp bằng tiền được quy định: cheo nội nộp 4 đồng cùng 100 khẩu trầu; cheo ngoại nộp 5 đồng cùng 200 khẩu trầu. Trong vòng 8 ngày phải đăng ký giá thú, nếu không tuân thủ thì nhà gái bị phạt 4 hào.

3. Thẩm quyền phân chia ruộng đất công trong làng xã cổ truyền thuộc về ai và được ghi nhận trong văn bản nào?
Dù trên danh nghĩa toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu của triều đình, nhưng quyền phân chia ruộng đất công thực tế hoàn toàn thuộc về Hội đồng tộc biểu hoặc Hội đồng kỳ mục của làng, lý trưởng đại diện nhà nước không có quyền can thiệp. Điều này được ghi nhận trong Điều lệ xã Bằng Trang năm 1682 (235 mẫu công điền, 2 năm chia 1 lần) và Hương ước làng Phù Liệt (82 mẫu 2 miếng công thổ, trích 12 mẫu 9 sào cho chùa miếu, còn 69 mẫu 1 sào 2 miếng chia đều cho đinh nam từ 18 đến 60 tuổi, 3 năm cấp lại 1 lần).

4. Vì sao sau năm 1945 đến trước thời kỳ Đổi mới (1986), Nhà nước không chủ trương xây dựng hương ước ở nông thôn?
Sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nhà nước Việt Nam không chủ trương xây dựng hương ước do quan niệm thời bấy giờ coi hương ước là biểu hiện tập trung của tàn dư phong kiến, lối sống cổ hủ và luật lệ lạc hậu, không còn cơ sở để tồn tại trong môi trường xã hội mới, trước khi nhận thấy nhu cầu tự quản văn hóa cơ sở được đặt ra trở lại sau năm 1986.

5. Cấu trúc nội dung chuẩn của một bản Hương ước mới (Quy ước làng văn hóa) hiện nay gồm những phần nào?
Cấu trúc cơ bản gồm 5 chương: Chương 1 - Nguyên tắc chung; Chương 2 - Các quy định về lễ nghi, tôn giáo (chủ yếu là lễ hội); Chương 3 - Quy định về nếp sống văn hóa nói chung (xây dựng Gia đình văn hóa, việc cưới, việc tang); Chương 4 - Đạo lý gia đình và xã hội; Chương 5 - An ninh trật tự, bảo vệ môi trường; và cuối cùng là Điều khoản thi hành.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Quyên đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa hình thành nên tính tự trị của làng xã đồng bằng sông Hồng thông qua thiết chế hương ước. Công trình chỉ rõ sự vận động mang tính lịch sử từ tính tự trị khép kín, biệt lập của hương ước cổ truyền sang tính tự quản mở, gắn kết hài hòa với pháp luật nhà nước trong các bản quy ước làng văn hóa đương đại. Thông qua việc phân tích thực trạng biến đổi trong tín ngưỡng, việc cưới, việc tang và đạo lý xã hội, đề tài cung cấp luận cứ thực tiễn nhằm phát huy vai trò tích cực của hương ước trong tiến trình xây dựng nông thôn mới.