phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 2 chơng và 5 tiết. KHAI QUAT VE LÀNG XÃ Ở ĐÒNG BẰNG SONG HONG 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa của đồng bằng sông Hồng 1.1 Điều kiện tự nhiên Đồng bằng sông Hồng (hay châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 11 tỉnh và thành phố nh: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hng Yên, Hải Dơng, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh. Không giống nh vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có 2 tinh Thái Bình và Hng Yên là không có núi, do đó khu vực này thờng đợc gọi là châu thổ sông Hồng.
Đồng bằng sông Hồng trải rộng từ vĩ độ 21°34“B (huyện Lập Thạch) tới vùng bãi bồi khoảng 19°5“B (huyện Kim Sơn), từ 105°17Đ (huyện Ba Vì) đến 1077 (trên đảo Cát Bà). Toàn vùng có diện tích: 15.000 km2, chiếm 4,6% diện tích của cả nớc. Phía bắc và đông bắc là Vòng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây và tây nam là vòng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vòng Bắc Trung Bộ. Địa hình tơng đối bằng phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo điều kiện thuận lợi dé phát triển hệ thống giao thông thuỷ bộ cũng nh cơ sở hạ tầng của vùng.
Tuy nhiên, về mùòa ma lu lợng dòng chảy quá lớn hàng năm thờng xảy ra gây ra lũ lụt, nhất là ở các vùng cửa sông khi nớc lũ và triều lên gặp nhau gây ra hiện tợng dồn ứ nớc trên sông. Trong khi đó, về mùa khô (tháng 10 đến tháng 4 năm sau), dòng nóc trên sông chỉ còn 20-30% lợng nớc cả năm gây ra hiện tợng thiếu nớc. Bởi vậy, để ổn định việc phát triển sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp thì phải xây dựng hệ thống thuỷ nông đảm bảo chủ động tới tiêu và phải xây dựng hệ thống đê điều chông lũ và ngăn mặn. Đồng bằng sông Hồng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5 - 23,5 độ C, lợng ma trung bình năm là 1400 - 2000mm, vì vậy tạo các sản phẩm nông nghiệp đa dạng và phong phú.
tài nguyên thiên nhiên của vùng khá đa dạng, đất đai của vùng khá màu mỡ do đợc phù sa của hệ thống sông Thái Bình và sông Hồng bồi đắp. Nhờ đó mà nguồn nớc dôi dào, không chỉ nguồn nớc trên mặt và nguồn nớc ngầm đều có chất lợng rất tốt. Bên cạnh những thuận lợi, đồng bằng sông Hồng cũng có những khó khăn, do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thờng xảy ra thiên tai nh bão lũ, hạn hán, sơng muối. Ngoài ra, còn xảy ra tình trạng thiếu nớc trong mùa khô và thừa nớc trong mùa ma.
Hiện nay vấn đề nâng cấp và xây dựng các hệ thống công trình thủy lợi của vòng đặc biệt chú trọng nhằm đảm bảo chủ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân. Đặc điểm kinh tế - xã hội và văn hóa Từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên có thể thấy rằng, vùng đồng bằng sông Hồng rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nớc. Trong nền văn hóa dân gian không thể thiếu những câu ca dao, tục ngữ nói về cây lúa nớc nh: ““Trâu ơi ta bảo trâu này / Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.” Hay: “Cày đồng đang buổi ban tra M6 héi thánh thót nh ma ruộng cày Ai ơi bng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” Nền văn minh lúa nớc còn có những ảnh hởng nhất định tới suy nghĩ, cách cử xử, lối suy nghĩ của ngời dân Việt nói chung và c dân đồng bằng sông Hồng nói riêng. Nền văn minh lúa nớc đã tạo nên con ngời Việt Nam cần cù, chịu thơng, chịu khó, ngời nông dân luôn gắn liền với con trâu, cánh đồng lúa.
Văn minh lúa nớc cũng là một trong những yếu tô ảnh hởng tới tín ngỡng dân gian hay hoạt động văn hóa lễ hội. Chính vì họ gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp, với lúa nớc mà họ có sự gắn bó gắn bó chặt chẽ với làng hơn. Bên cạnh đó, ngời Việt Nam cũng có tính “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” vì vậy, khi đã sinh sống ở làng thì họ sẽ gan bó với làng, còng nhau xây dựng làng mình tốt đẹp hơn, phát triển hơn. Những ngời đi tha hơng đề làm ăn, kiếm sống thì sau này cũng có xu hớng quay trở về làng quê của mình.
Nh vậy, có thê thay rằng làng là nơi gắn kết tất cả những ngời dân sinh sống trong làng. Mọi ngời dân đều hớng về làng của mình. Do đặc thù là sản xuất nông nghiệp trông lúa nớc, dựa vào điều kiện tự nhiên nên ngời dân phải chung sức chung lòng đề cùng nhau lao động sản xuất và đấu tranh chống lại thiên tai, cong nhau trị thủy và làm thủy lợi. Từ đó hình thành nên tính cố kết cộng đồng rất cao.
Và tính cộng đồng là cơ sở cho tính tự trị, tự quản. Có thê nói, làng xã ở Việt Nam truyền thống nói chung và đồng bằng sông Hồng nói riêng giống nh một “vơng quốc thu nhỏ”, cũng có luật lệ riêng, thiết chế xã hội riêng, vì vậy ma tinh tu tri của làng xã rat cao. Việt Nam là một nớc nông nghiệp với đặc trng là trồng lúa nớc phát triển, điển hình phải kể đến vòng đồng bằng sông Hồng, là vựa lúa thứ hai của cả nớc sau đồng bằng sông Cửu Long. Số đất đai đợc sử dụng vào hoạt động nông nghiệp khá lớn, trên 70 vạn ha chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng sông Hồng.
Từ bao đời nay, ngời dân sống bằng nghề trồng lúa nớc, đã tích lũy đợc nhiều kinh nghiệm đề từ đó đây mạnh sản xuất. Ngoài lúa nớc, vòng còn sản xuất nhiều nông sản có giá trị nh: gạo tám thơm, nếp cái, nhãn Hng Yên, vải Thanh Hà, thuốc lào Hòa An, ổi Bo Thái Bình. Bên cạnh sản phâm nông nghiệp, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng hầu hết nguyên liệu truyền thống nh: chạm khắc, mây, sơn mài, tre đan, gốm sứ, thêu, các sản phẩm từ cói. không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nớc mà còn xuất khẩu ra nớc ngoài.
Chính vì vậy, c dân đồng bằng sông Hồng vốn chuộng hòa bình, cần cò lao động, thông minh sang tạo và giàu lòng mến khách, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch. 10 Khi nhắc tới điều kiện kinh tế - xã hội của làng xã không thể không nhắc đến chợ phiên. Đối với những ngời dân ở Đồng bằng Bắc Bộ, chợ phiên là một nét văn hóa độc đáo trong đời sống sinh hoạt. Thờng mỗi xã hoặc một vài làng liền kề nhau có một cái chợ, chợ của làng nào, xã nào thì gọi theo tên của làng Ấy, nói nôm na đó là chợ quê.
Họp chợ là một tập quán có từ lâu đời của ngời dân ở nông thôn Việt Nam, qua thời gian phát triển, chợ có nhiều hình thức với nhiều ý nghĩa nhng chung nhất vẫn là nơi đề ngời dân gặp gỡ, trao đổi, mua bán. Chủng loại hàng hoá đa phần là những sản vật ở địa phơng do vậy mà thay đổi theo mùa vụ.Thông qua chợ, ngời dân chỉ buôn bán nhỏ lẻ, tự cung tự cấp vì vậy chỉ có sự trao đổi, buôn bán giữa những ngời trong làng hoặc vài làng liền kề với nhau. Ngày nay chỉ còn dấu vết chợ quê ở làng, ở xã, còn chợ huyện, chợ tỉnh hầu nh đã biến thành những trung tâm buôn bán lớn trong vòng, ở những khu vực phát triển còn xuất hiện trung tâm thơng mại, siêu thị,. phục vụ nhu cầu của ngời dân.
Trớc đây, việc buôn bán, họp chợ diễn ra theo phiên, thờng đợc gọi là chợ phiên. Tuy nhiên, do nhu cầu trao đổi, mua bán nên chợ diễn ra hàng ngày, vì vậy mà mất đi phiên chợ truyền thống ngày trớc. Khi cuộc sống càng phát triển, ngời ta càng có nhu cầu tìm lại những giá trị xa cũ, đặc biệt là những gì đã và đang mai một theo thời gian, chợ quê là một trong số đó. Chính vì là nớc có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nên nền văn hóa cũng bị ảnh hởng bởi nghề trồng lúa nớc đặc biệt đó là trong lễ hội.
Các làng thể hiện sự uy thế của mình thông qua việc tô chức lễ hội, họ thờng làm to, hoành tráng hơn những làng khác, thể hiện tính tự tôn, tự trị của làng cao. Trong lễ hội phần quan trọng nhất đó là rớc kiệu, ngời rớc phải là trai cha vợ, gái cha chồng tham gia. Thờng các làng sẽ tổ chức rớc kiệu vào mùa xuân, họ sẽ rớc quanh làng đề thành hoàng xem dân làng sinh sống nh thế nào. Khiến mọi ngời trong làng gắn kết với nhau hơn.
Điều đó cũng thể hiện đặc trng “ nửa kín, nửa hở” của làng xã, ngời dân không chỉ bó hẹp trong làng mình mà còn có sự giao lu với các làng khác thông qua các lễ hội. 11 Có thể thấy rằng, những điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa kể trên cũng có sự tác động không nhỏ đến tính tự trị, tự quản của làng xã ở đồng bằng sông Hồng. Với một nền kinh tế dựa trên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, ngời dân đồng bằng sông Hồng gắn liền với đồng ruộng vì vậy mà họ cũng gan kết với làng xã hơn. Làng xã đồng bằng sông Hồng và tính tự trị của làng xã đồng bằng sông Hồng 1.
Đặc điểm làng xã truyền thống của đồng bằng sông Hồng Nói đến làng xã truyền thống Việt Nam thì đại diện chính là làng xã vùng Đồng bằng Sông Hồng, cái nôi của văn hóa Việt. Với lịch sử phát triển và văn hóa có lịch sử hình thành khoảng từ 1000-4000 năm. Nguyễn Từ Chi cũng đã nói rằng “làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Và trung du Bắc Bộ là một đơn vị dân c đợc tập hợp chủ yếu theo quan hệ láng giéng” [25;190]. Vì vậy, có thể hiểu một cách khái quát về làng Việt cô truyền thì “làng là một tế bào xã hội của ngời Việt.
Nó là tập hợp dân c chủ yếu theo quan hệ láng giêng, cong song trén mot khu vuc gom một khu đất đề làm nhà ở và một khu đất để trong trọt, một tập hợp những gia đình nhỏ sản xuất và sinh hoạt độc lập”.