phần Mở đầu (4 trang), Kết luận và Khuyến nghị (3 trang), các nội dung của luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng gồm: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu (34 trang) Chƣơng 2. Đối tƣợng, phạm vi, cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu (13 trang). Kết quả nghiên cứu và thảo luận (86 trang) Ngoài ra, luận án còn bao gồm 13 trang tài liệu tham khảo và 10 phụ lục (41 trang).
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm Đa dạng sinh học (Biodiversity): là thuật ngữ chỉ tính phong phú của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là các gen chứa đựng trong các loài và những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trƣờng hay là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên [57]. Đa dạng sinh học (ĐDSH) thƣờng xem xét ở 3 mức độ: đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái.
hát tri n b n vững đa d ng sinh học là việc khai thác, sử dụng hợp lý các hệ sinh thái tự nhiên, phát triển nguồn gen, loài sinh vật và bảo đảm cân bằng sinh thái phục vụ phát triển kinh tế - xã hội [57]. Hành lang đa d ng sinh học là khu vực nối liền các vùng sinh thái tự nhiên cho phép các loài sinh vật sống trong các vùng sinh thái đó có thể liên hệ với nhau [57]. Khái niệm này ngày nay tại các nƣớc phát triển hay sử dụng trong nghiên cứu giao thông đƣờng bộ [93, 97, 98]. Hệ sinh thái (Ecosystem) là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của một khu vực địa lý nhất định, có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau [57].
Theo quan niệm hiện nay, hệ sinh thái (HST) đƣợc hiểu là một tổ hợp động của các quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật, và các điều kiện môi trƣờng vô sinh xung quanh trong sự tƣơng tác lẫn nhau nhƣ một đơn vị chức năng; Con ngƣời là một bộ phận hữu cơ của hệ sinh thái. Định nghĩa này nhấn mạnh con ngƣời là một thành viên đặc biệt của HST theo nghĩa con ngƣời, một mặt, có những tác động mạnh mẽ nhất vào HST theo cách riêng của mình (có ý thức và bằng công cụ) và mặt khác lại là đối tƣợng mà bất kỳ nghiên cứu HST nào cũng phải hƣớng tới để đem lại phúc lợi cho họ [34, 35, 111]. Các thành phần HST đƣợc đánh giá qua: sinh khối, sản lƣợng; các loài, quần xã hiếm hoặc bị đe doạ tuyệt chủng., giá trị văn hóa, thẩm mỹ cho từng loài hoặc quần xã, hoặc giá trị cảnh quan tự nhiên; chỉ thị thống nhất các hiệu ứng tiềm tàng trong một hệ thông số sinh thái; vai trò tham gia của cộng đồng (tầm quan trọng, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy mô) [47, 67]. Đa d ng hệ sinh thái: là sự phong phú về trạng thái và loại hình của các mối quan hệ giữa quần xã sinh học với môi trƣờng tự nhiên.
Hệ xã hội (Social system) bao gồm tất cả các sản phẩm khác nhau của văn hóa con ngƣời ở mức độ quần thể, bao gồm các yếu tố chính: dân số, văn hóa, sản phẩm vật chất, tổ chức xã hội, và thể chế xã hội…Tuy sống trong xã hội nhƣng con ngƣời vẫn luôn luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên, tác động và khai thác tài nguyên ngày càng nhiều để phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống ngày càng cao của mình. Từ đó, dần hình thành các Hệ sinh thái nhân văn [22, 35]. Hệ sinh thái nhân văn (Human ecosystem) là tổng hòa của hai hệ thống, hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội trong sự tƣơng tác lẫn nhau ở một khu vực nhất định. Theo đó, hình thành một khoa học liên ngành - Sinh thái học nhân văn (Human ecology) và các chuyên ngành của nó (Sinh thái học chính trị - Political ecology; Sinh thái học xã hội – Social ecology…) [22, 35, 104].
Hệ sinh thái – xã hội (Social-ecological system) là một biến thể của hệ sinh thái nhân văn, nhấn mạnh yếu tố thể chế và đƣợc định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con ngƣời và tự nhiên, một đơn vị sinh - vật lý - địa và các yếu tố xã hội, thể chế kèm theo. Hệ sinh thái - xã hội là hệ thống phức tạp nhất, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trƣng khác nhau đƣợc nhấn mạnh [22, 35, 37, 88, 104, 109, 114]. Hệ sinh thái - xã hội có các thuộc tính sau: i) Một hệ thống chức năng, gồm các yếu tố địa-vật lý sinh học và xã hội có sự tƣơng tác thƣờng xuyên với nhau theo một phƣơng thức bền vững và chống chịu; ii) Một hệ thống tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian xác định, có cấu trúc, chức năng và các cấp độ tổ chức tƣơng tác lẫn nhau; iii) Một tổ hợp các dạng tài nguyên quan trọng (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế - xã hội và văn hóa) đƣợc phát triển và sử dụng bởi phức hợp của cả hai hệ thống, hệ thống sinh thái và hệ thống xã hội; iv) Một hệ thống phức hợp biến động không ngừng với sự thích ứng liên tục. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, theo quan điểm của luận án, khái niệm hệ sinh thái – xã hội đặc biệt nhấn mạnh vào yếu tố con ngƣời trong xã hội mà cụ thể là thể chế với việc ra quyết định của mình tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái liên quan làm biến đổi theo không gian, thời gian với sự thích ứng liên tục.
Cộng đồng (Community) là một nhóm ngƣời có những đặc điểm thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và ƣớc muốn tƣơng đối giống nhau, cùng sống trong một bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội xác định. Hay nói một cách khác, cộng đồng đƣợc quan niệm là đồng bào các dân tộc đang sinh sống trong một khu vực địa lý nhất định [67, 110, 123]. Quản lý dựa vào cộng đồng (Community–based management) là lấy cộng đồng làm trọng tâm trong việc quản lý tài nguyên. Đƣa cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý tài nguyên, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện.
Đây là hình thức quản lý đi từ dƣới lên, thực hiện theo nguyện vọng, nhu cầu thực tế và ý tƣởng của chính cộng đồng, trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò nhƣ một công cụ hỗ trợ thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng [30, 51, 122]. Vốn sinh kế (Livelihood capitals) hay nguồn vốn hay tài sản sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con ngƣời có đƣợc để duy trì hay phát triển sinh kế của họ. Nguồn vốn hay tài sản sinh kế đƣợc chia thành 5 loại chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên [96]. Sinh kế bền vững (Sustainable livelihood): một sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tƣơng lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên [96].
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khung phân tích của vấn đề nghiên cứu Luận án xác định các vấn đề nghiên cứu chính là tập trung vào phân tích, đánh giá các ảnh hƣởng đến hợp phần của hệ sinh thái – xã hội do việc xây dựng tuyến đƣờng TTBG ở Tây Nguyên, trong đó tập trung vào các tác động tới hệ tự nhiên, hệ xã hội và mối tƣơng tác giữa tự nhiên và xã hội. Các tác động này bao gồm cả nguyên nhân trực tiếp (gây suy giảm diện tích rừng, sự đa dạng loài) và nguyên nhân gián tiếp (chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm suy giảm hệ sinh thái rừng, sinh kế - nghèo đói và suy giảm ĐDSH). Cụ thể các đánh giá tập trung vào tính ĐDSH, sự thay đổi các hệ sinh thái rừng, loài, biến động sử dụng đất, vấn đề nghèo đói và nhận thức, di dân trong các mối tƣơng tác liên quan.
Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hƣớng tới phát triển bền vững tại khu vực biên giới Tây Nguyên. Quy trình nghiên cứu có thể mô tả trên khung phân tích sau (Hình 1.1): PHÁT Xây dựng tuyến đường TRIỂN TTBG Tây Nguyên KT - XH HỆ SINH THÁI – XÃ HỘI KHU VỰC BIÊN GIỚI TÂY NGUYÊN Hệ sinh thái Hệ xã hội - Tài nguyên sinh học - Cộng đồng - Tài nguyên nước Thể chế và Công nghệ - Văn hóa - Tài nguyên đất trong quản lý tài nguyên - Cơ sở hạ tầng - Tài nguyên khoáng - KT – XH sản - AN - QP - Tài nguyên khí hậu ĐÁNH GIÁ ẢNH Trực tiếp Gián tiếp ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG HƯỞNG - Suy giảm ĐDSH - Dân số & sinh kế - Phân mảnh môi - QL tài nguyên trường - Văn hóa - Mất loài - AN - QP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Hình 1. Khung phân tích của vấn đề nghiên cứu 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các giải pháp đề xuất của luận án đƣợc lồng ghép vào trong phát triển kinh tế địa phƣơng, đƣa ra mô hình gắn với tính đặc trƣng văn hóa và cộng đồng trong quản lý tài nguyên đáp ứng đƣợc sinh kế của ngƣời dân, đảm bảo an ninh – quốc phòng ở khu vực biên giới. Khung phân tích nhấn mạnh vào tính hệ thống, tính liên ngành trong nghiên cứu sự thay đổi các hợp phần và sự tƣơng tác của chúng trong hệ sinh thái – xã hội khu vực biên giới Tây Nguyên, đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên trên quan điểm định hƣớng phát triển bền vững.
Các vấn đề nghiên cứu nằm trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), theo kịch bản biến đổi khí hậu công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng 2012, khu vực Tây Nguyên sẽ có nhiệt độ tăng lên khoảng 0,30C vào năm 2020; 0,80C vào năm 2050 và 1,60C vào năm 2100 [83]. Gia tăng lƣợng mƣa vào mùa mƣa, giảm vào mùa khô khiến cho mùa khô ngày càng khốc liệt hơn, hạn hán gia tăng với mức độ đáng kể. Lũ lụt, lũ quét vẫn là mối đe dọa thƣờng xuyên trong mùa mƣa. Tác động tiềm tàng của BĐKH về lâu dài sẽ làm thay đổi ranh giới các hệ sinh thái rừng tự nhiên và rừng trồng [6, 33, 53].