Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên phạm vi toàn cầu, sở hữu các hệ sinh thái đặc trưng vùng nhiệt đới với khoảng 11.458 loài động vật, 21.017 loài thực vật (trong đó có 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch) và xấp xỉ 3.000 loài vi sinh vật. Nguồn tài nguyên thực vật của Việt Nam đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp vật liệu di truyền và phục vụ đời sống dân sinh. Tuy nhiên, dưới áp lực gia tăng dân số, nhu cầu khai thác tài nguyên quá mức và các hoạt động kinh tế - xã hội thiếu kiểm soát, diện tích các sinh cảnh tự nhiên đang ngày càng bị thu hẹp, dẫn tới tình trạng suy giảm nghiêm trọng về đa dạng sinh học và đe dọa trực tiếp sự tồn tại của nhiều nguồn gen cây rừng quý hiếm.

Tại tỉnh Cao Bằng, Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc là khu vực có giá trị cao về mặt sinh cảnh và đa dạng loài. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học xác thực phục vụ công tác quản lý tài nguyên, đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng của các loài thực vật làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng quý hiếm tại xã Thành Công thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” đã được thực hiện.

Mục đích nghiên cứu là đánh giá tính đa dạng sinh học của các loài thực vật quý hiếm tại khu vực thôn Bản Chang, xã Thành Công, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật nguy cấp. Để đạt được mục đích này, đề tài xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định danh lục các loài thực vật quý hiếm tại xã Thành Công thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc.
  2. Xác định mức độ nguy cấp của các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm theo Danh lục đỏ Thế giới (IUCN), Sách đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài thực vật, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm tại xã Thành Công.

Đối tượng nghiên cứu là các loài thực vật quý hiếm hiện diện trên địa bàn nghiên cứu. Phạm vi không gian được giới hạn tại xã Thành Công (tập trung tại khu vực thôn Bản Chang) thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Phạm vi thời gian thu thập số liệu thực địa, tổng hợp và phân tích tài liệu được tiến hành từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 05 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận về sinh học quần thái, sinh thái học rừng và nguyên lý bảo tồn đa dạng sinh học. Khung phân loại và đánh giá cấp độ nguy cấp của các loài thực vật được đối chiếu qua 3 hệ thống tiêu chuẩn:

  • Tiêu chuẩn phân hạng của Hiệp hội Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) với các thang bậc bảo tồn: Tuyệt chủng (EX), Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW), Cực kỳ nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN), Sắp nguy cấp (VU), Gần bị đe dọa (NT/LR), Ít quan tâm (LC), Thiếu dẫn liệu (DD), và Không đánh giá (NE).
  • Sách đỏ Việt Nam (phần Thực vật năm 2007).
  • Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ (phân thành Nhóm IA - nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại; Nhóm IIA - hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại).
  • Hệ thống phân loại dạng sống thực vật của Raunkiaer dựa trên chiều cao và vị trí chồi sinh dưỡng (5 nhóm dạng sống chính và các phân nhóm phụ).
  • Phân loại trạng thái rừng theo hệ thống Loeschau (1963).
  • Hệ thống Brummit (1992) và Danh lục thực vật Việt Nam dùng để định danh, chuẩn hóa tên khoa học, họ và chi thực vật.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ qua hai hợp phần:

1. Phương pháp ngoại nghiệp (Điều tra thực địa):

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập, chọn lọc số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các báo cáo điều tra đa dạng sinh học đã công bố tại khu bảo tồn.
  • Phương pháp phỏng vấn xã hội học: Phỏng vấn trực tiếp 30 người dân địa phương (bao gồm người am hiểu địa hình, người từng khai thác lâm sản, già làng, thầy lang, tuần rừng và cán bộ kiểm lâm địa bàn) theo phiếu điều tra chuẩn, kết hợp trình chiếu mẫu vật trực quan để thu thập dữ liệu về công dụng, mức độ khai thác và tình trạng phân bố.
  • Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 2 tuyến điều tra thực địa đại diện đi qua các trạng thái rừng. Tuyến 1 có độ dốc trung bình $40^\circ$, tuyến 2 có độ dốc trung bình $39^\circ$. Cứ mỗi cự ly 100 m trên tuyến chính, mở các tuyến phụ hình xương cá sang hai phía để điều tra thành phần loài trong phạm vi bề rộng 10 m khi có sự thay đổi đai thực vật.
  • Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC): Lập 15 OTC điển hình ngẫu nhiên với diện tích $1.000\text{ m}^2$ ($20\text{ m} \times 50\text{ m}$) mỗi ô, chiều dài bố trí theo đường đồng mức. Mỗi trạng thái rừng lập 1 - 2 OTC để điều tra mật độ loài, tầng cây gỗ, tầng cây bụi và thảm tươi.

2. Phương pháp nội nghiệp (Xử lý và phân tích số liệu):

  • Xử lý tiêu bản mẫu thực vật trong phòng thí nghiệm, ép đính trên giấy Croki và lưu trữ phục vụ định danh.
  • Xác định và hiệu chỉnh danh pháp khoa học thông qua bộ tài liệu Tên cây rừng Việt Nam và Danh lục thực vật Việt Nam.
  • Tổng hợp số liệu, lập danh lục phân loại học (ngành, họ, chi, loài), xây dựng phổ dạng sống Raunkiaer và thống kê phân bố theo tuyến, trạng thái rừng và đai cao.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1 – Mở đầu

Chương này phân tích tổng quan bối cảnh đa dạng sinh học của Việt Nam, nêu bật sự phong phú về chủng loài cũng như các phát hiện loài mới trong giai đoạn 1993 - 2002. Tác giả chỉ ra mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng tài nguyên của cộng đồng địa phương với yêu cầu bảo tồn thiên nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc. Nội dung chương xác định cụ thể mục đích, 3 mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác bảo vệ rừng tại xã Thành Công.

Phần 2 – Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2 hệ thống hóa cơ sở khoa học về mặt sinh học và bảo tồn ĐDSH; làm rõ hệ thống tiêu chí phân hạng mức độ đe dọa của IUCN và Sách đỏ Việt Nam. Tác giả điểm luận các nghiên cứu quốc tế liên quan đến các công ước bảo tồn (RAMSAR 1971, CITES 1972, Paris 1972, Bonn 1979) và dữ liệu Danh lục đỏ IUCN 2004. Đồng thời, chương trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước của Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Nghĩa Thìn, Cao Thị Lý, Ngô Tiến Dũng và hệ thống rừng đặc dụng gồm 127 khu trên toàn quốc.

Phần 3 – Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác định đối tượng, phạm vi không gian (xã Thành Công) và thời gian nghiên cứu (tháng 01/2014 - 05/2014). Tác giả chi tiết hóa 4 nội dung nghiên cứu cùng quy trình kỹ thuật ngoại nghiệp (phỏng vấn 30 người dân, lập 2 tuyến điều tra xương cá, thiết lập 15 OTC diện tích $1.000\text{ m}^2$) và phương pháp nội nghiệp định danh loài theo hệ thống Brummit, phân loại dạng sống theo Raunkiaer và đánh giá cấp độ nguy cấp theo Sách đỏ và Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Phần 4 – Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 4 là nội dung trọng tâm của khóa luận, trình bày toàn bộ số liệu điều tra thu được:

  • Đa dạng thành phần loài và dạng sống: Ghi nhận danh lục 46 loài thực vật quý hiếm thuộc 38 chi, 31 họ. Phổ dạng sống cho thấy dạng cây chồi trên mặt đất nhóm gỗ nhỡ (dạng 1.4: 8 - 25 m) chiếm ưu thế lớn nhất với 16 loài (34,8%), kế đến là dạng chồi lùn (dạng 1.2: 0,3 - 3 m) với 11 loài (23,9%), dạng cây gỗ lớn (dạng 1.1: >25 m) có 8 loài (17,4%), dạng cây gỗ nhỏ (dạng 1.5: 3 - 8 m) có 7 loài (15,2%), dạng dây leo (dạng 1.3) và cây bì sinh (dạng 1.7) đều có 2 loài (4,3%).
  • Cấu trúc phân loại học: Ngành Hạt kín (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 39 loài (84,8%), trong đó Lớp Hai lá mầm (Dicotyledones) chiếm 30 loài (65,2%) và Lớp Một lá mầm (Monocotyledones) chiếm 9 loài (19,6%). Ngành Hạt trần (Pinophyta) có 5 loài (10,9%) và ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 2 loài (4,3%). Họ Lan (Orchidaceae) có số loài quý hiếm cao nhất (6 loài), tiếp theo là họ Mộc lan (Magnoliaceae) với 3 loài.
  • Mức độ nguy cấp:
    • Danh lục đỏ IUCN (2011) ghi nhận 13 loài: 2 loài Nguy cấp (EN - Chò chỉ, Thông đỏ lá dài), 3 loài Sắp nguy cấp (VU - Chò nâu, Trà hoa gilbert, Sến mật), 7 loài Ít nguy cấp (LR) và 1 loài Thiếu dẫn liệu (DD - Re hương).
    • Sách đỏ Việt Nam (2007) có 42 loài (trong bảng tổng hợp ghi nhận 41 - 42 loài) gồm: 2 loài Rất nguy cấp (CR - Re hương, Kim ngân rừng), 15 loài Nguy cấp (EN) và 25 loài Sẽ nguy cấp (VU).
    • Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ghi nhận 12 loài (chiếm 26,1%), trong đó Nhóm IA có 3 loài (Hài mạng đỏ tía, Kim tuyến đá vôi, Thông đỏ lá dài) và Nhóm IIA có 9 loài (Bình vôi hoa đầu, Củ dòm, Hoàng đằng, Thanh thiên quỳ, Đảng sâm, Hoa tiên, Thổ tế tân, Hoàng tinh cách, Re hương).
  • Hiện trạng phân bố sinh thái:
    • Theo tuyến điều tra: Tuyến 1 ghi nhận 20 loài, tuyến 2 ghi nhận 26 loài.
    • Theo trạng thái rừng: Trạng thái IIA có 6 loài quý hiếm (Đảng sâm, Hoa tiên, Hoàng đằng, Hoàng tinh cách, Re hương, Thanh thiên quỳ); sinh cảnh khe, sông suối ẩm ghi nhận 1 loài (Hồi nước).
    • Theo đai cao: Đai cao 700 - 800 m tập trung nhiều loài nhất (22 loài), đai cao >800 - 900 m có 16 loài và đai cao >900 m có 8 loài.
  • Khảo sát tri thức bản địa và sử dụng: Kết quả phỏng vấn 30 người dân cho thấy có 20 loài quý hiếm bị khai thác phục vụ mục đích gia đình (thuốc, thực phẩm, lấy gỗ, củi). Loài Trám đen được sử dụng nhiều nhất (10 hộ, tỷ lệ 13,3%), tiếp đến là Đinh vàng, Gội nếp, Bổ béo đen, Chò chỉ.
  • Phân tích 3 loài ưu tiên bảo tồn cấp thiết:
    1. Kim ngân rừng (Lonicera bournei - Caprifoliaceae): Xếp hạng CR (B1+2b, C2a), cá thể dưới 250 cây, bị xâm hại do mở rộng đường giao thông.
    2. Re hương (Cinnamomum parthenoxylon - Lauraceae): Xếp hạng CR (A1a,c,d), Nhóm IIA, bị khai thác kiệt quệ, không còn cây trưởng thành trong tự nhiên.
    3. Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana - Taxaceae): Xếp hạng VU (A1a,c) theo Sách đỏ VN, EN theo IUCN, Nhóm IA theo NĐ 32/2006/NĐ-CP. Tại khu vực nghiên cứu chỉ phát hiện 2 cá thể trưởng thành, không có cây tái sinh cận kề, là đối tượng cần ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt nhất.
  • Đề xuất 6 nhóm giải pháp bảo tồn: Chính sách pháp luật, nguồn nhân lực, tổ chức thực hiện, khoa học kỹ thuật (In-situ và Ex-situ), phát triển cộng đồng và hợp tác quốc tế.

Phần 5 – Kết luận và kiến nghị

Chương tổng kết lại 5 kết luận chính về thành phần loài, dạng sống, cấu trúc phân loại, mức độ nguy cấp và đặc điểm phân bố; đồng thời đưa ra 7 kiến nghị cụ thể gửi Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và bảo tồn nguồn gen thực vật.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hoàn thành việc xây dựng bộ cơ sở dữ liệu thực địa về các loài thực vật quý hiếm tại xã Thành Công. Các số liệu chính được tổng hợp cụ thể qua bảng dưới đây:

Chỉ tiêu phân loại / Đánh giá Số lượng loài Tỷ lệ (%) Ghi chú đại diện
Tổng số loài thực vật quý hiếm 46 100% Thuộc 38 chi, 31 họ
Phân loại theo Ngành thực vật:
- Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 2 4,3% Cốt toái bổ, Tắc kè đá
- Ngành Hạt trần (Pinophyta) 5 10,9% Kim giao, Thông tre, Thông đỏ lá dài...
- Ngành Hạt kín (Magnoliophyta) 39 84,8% Lớp 1 lá mầm (9 loài), Lớp 2 lá mầm (30 loài)
Phổ dạng sống (Raunkiaer):
- Dạng 1.4 (Gỗ nhỡ 8 - 25 m) 16 34,8% Chiếm ưu thế cao nhất
- Dạng 1.2 (Chồi lùn 0,3 - 3 m) 11 23,9% Chò chỉ, Giổi lông, Lát hoa...
- Dạng 1.1 (Cây gỗ lớn > 25 m) 8 17,4% Chò nâu, Re hương, Thông đỏ lá dài...
- Dạng 1.5 (Cây gỗ nhỏ 3 - 8 m) 7 15,2% Hoàng đằng, Đảng sâm, Củ dòm...
- Dạng 1.3 (Dây leo) 2 4,3% Ngũ gia bì gai, Hồi nước
- Dạng 1.7 (Cây bì sinh) 2 4,3% Mã đậu linh quảng tây, Mã hồ
Xếp hạng mức độ nguy cấp:
- Danh lục đỏ IUCN (2011) 13 28,3% 2 EN, 3 VU, 7 LR, 1 DD
- Sách đỏ Việt Nam (2007) 42 91,3% 2 CR, 15 EN, 25 VU
- Nghị định 32/2006/NĐ-CP 12 26,1% 3 loài Nhóm IA, 9 loài Nhóm IIA
Phân bố theo đai cao:
- Đai cao 700 - 800 m 22 47,8% Đa dạng loài cao nhất
- Đai cao > 800 - 900 m 16 34,8% Giổi lụa, Sến mật, Re hương...
- Đai cao > 900 m 8 17,4% Bình vôi hoa đầu, Thông đỏ lá dài...

Về mặt đóng góp thực tiễn, tác giả đã:

  • Phát hiện và ghi nhận sự tồn tại thực tế của các loài cực kỳ nguy cấp như Re hương, Kim ngân rừng và đặc biệt là quần thể cực nhỏ của Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana) chỉ còn 2 cá thể trưởng thành tại thực địa.
  • Chỉ rõ mối liên hệ giữa đời sống kinh tế khó khăn của người dân vùng đệm với việc khai thác 20 loài thực vật quý hiếm (chủ yếu là Trám đen, Đinh vàng, Gội nếp, Chò chỉ) cho nhu cầu sinh hoạt gia đình.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp gắn kết giữa bảo tồn nguyên vị (In-situ), chuyển vị (Ex-situ) với cải thiện sinh kế cộng đồng (xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi năng suất cao, phân định vùng nương rẫy).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ rõ các hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo dựa trên phạm vi thực hiện:

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 5 tháng (01/2014 - 05/2014) với phạm vi không gian tập trung chủ yếu tại xã Thành Công (thôn Bản Chang); số lượng mẫu phỏng vấn dừng lại ở 30 người dân và quy mô điều tra thực địa gồm 2 tuyến và 15 OTC ($1.000\text{ m}^2$/ô). Do đó, dữ liệu chưa bao quát được toàn bộ diện tích của Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi và thời gian điều tra chi tiết trên toàn bộ diện tích các xã thuộc Khu bảo tồn Phia Đén – Phia Oắc.
    • Thiết lập chương trình giám sát đa dạng sinh học định kỳ nhằm theo dõi biến động số lượng cá thể của các loài có nguy cơ đe dọa cao.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học tái sinh, nhân giống vô tính và hữu tính đối với loài Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana) và Re hương (Cinnamomum parthenoxylon).
    • Xây dựng vườn thực vật bảo tồn chuyển vị (Ex-situ) tại các khu vực có điều kiện lập địa và sinh thái phù hợp trong khu bảo tồn.

Giá trị tham khảo

Công trình khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý và kiểm lâm: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc có thể sử dụng trực tiếp danh lục 46 loài quý hiếm, tọa độ và đai cao phân bố để lập phương án tuần tra, khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các sinh cảnh nhạy cảm.
  • Sinh viên và nhà nghiên cứu: Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Đa dạng sinh học có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp điều tra tuyến xương cá, lập ô tiêu chuẩn $1.000\text{ m}^2$ theo đường đồng mức và kỹ thuật phỏng vấn PRA trong nghiên cứu thực vật rừng.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng danh lục chi tiết 46 loài thực vật quý hiếm kèm tên khoa học, phân hạng bảo tồn đối chiếu 3 danh mục (IUCN, Sách đỏ VN, Nghị định 32) và hồ sơ mô tả thực trạng loài Thông đỏ lá dài tại Phần 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài thực vật quý hiếm tại xã Thành Công và tỷ lệ giữa các ngành thực vật ra sao?
Nghiên cứu đã thống kê được 46 loài thực vật quý hiếm thuộc 38 chi và 31 họ. Trong đó, ngành Hạt kín (Magnoliophyta) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 39 loài (84,8%), ngành Hạt trần (Pinophyta) có 5 loài (10,9%) và ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 2 loài (4,3%).

2. Có bao nhiêu loài thực vật tại khu vực nghiên cứu nằm trong danh mục bảo vệ của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP?
Có 12 loài thuộc Nghị định số 32/2006/NĐ-CP (chiếm 26,1% tổng số loài quý hiếm điều tra được). Trong đó, có 3 loài thuộc Nhóm IA (nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại: Hài mạng đỏ tía, Kim tuyến đá vôi, Thông đỏ lá dài) và 9 loài thuộc Nhóm IIA (hạn chế khai thác: Bình vôi hoa đầu, Củ dòm, Hoàng đằng, Thanh thiên quỳ, Đảng sâm, Hoa tiên, Thổ tế tân, Hoàng tinh cách, Re hương).

3. Dạng sống nào chiếm tỷ lệ ưu thế nhất trong số các loài thực vật quý hiếm tại xã Thành Công?
Theo phân loại dạng sống của Raunkiaer, dạng sống 1.4 (cây chồi trên mặt đất, nhóm gỗ nhỡ cao 8 - 25 m) chiếm ưu thế lớn nhất với 16 loài (chiếm 34,8%), bao gồm các loài như Bát giác liên, Bình vôi hoa đầu, Cầu diệp cánh nhọn, Cốt toái bổ, Hoa tiên, Kim tuyến đá vôi, Thanh thiên quỳ, Trà hoa gilbert...

4. Hiện trạng cá thể của loài Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana) tại khu vực nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
Loài Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc.) thuộc họ Thông đỏ (Taxaceae), phân bố ở đai cao >900 m, thuộc nhóm IA Nghị định 32/2006/NĐ-CP và cấp EN theo IUCN. Tại xã Thành Công, loài này bị khai thác nghiêm trọng và hiện chỉ còn ghi nhận đúng 2 cá thể trưởng thành, không tìm thấy cây tái sinh cận kề, được xác định là đối tượng nguy cấp nhất cần ưu tiên bảo tồn nghiêm ngặt.

5. Người dân địa phương tại xã Thành Công khai thác bao nhiêu loài thực vật quý hiếm và phục vụ mục đích gì?
Kết quả phỏng vấn 30 người dân cho thấy có 20 loài thực vật quý hiếm thường xuyên bị khai thác phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình (làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ xây dựng, đun nấu), không có mục đích thương mại quy mô lớn. Loài được khai thác và sử dụng phổ biến nhất là cây Trám đen (10 hộ sử dụng, tỷ lệ 13,3%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Tố Chi đã cung cấp bức tranh toàn diện và có căn cứ thực nghiệm về tính đa dạng của 46 loài thực vật quý hiếm tại xã Thành Công thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc. Bằng phương pháp điều tra theo tuyến, lập 15 ô tiêu chuẩn kết hợp phỏng vấn cộng đồng, nghiên cứu đã định lượng cụ thể cấu trúc phân loại học, phổ dạng sống Raunkiaer, sự phân bố sinh thái theo đai cao và hiện trạng sử dụng tài nguyên của người dân bản địa. Các phát hiện thực địa về các loài cực kỳ nguy cấp, đặc biệt là hiện trạng quần thể chỉ còn 2 cá thể Thông đỏ lá dài, là cơ sở khoa học quan trọng giúp cơ quan quản lý thực thi 6 nhóm giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn gen cây rừng quý hiếm tại địa phương.