ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học (ĐDSH) có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vƣợng của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. ĐDSH có vai trò vô cùng to lớn quyết định sự tồn tại và phát triển của con ngƣời vì nó là nguồn cung cấp lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, là tấm lá chắn che chở và bảo vệ con ngƣời.Tuy nhiên, cho đến nay nguồn tài nguyên này đã bị suy giảm đến mức báo động. Đó là một thách thức mà con ngƣời đang phải đối mặt vì sự suy giảm ĐDSH sẽ làm mất cân bằng sinh thái dẫn đến những thảm họa thiên nhiên nhƣ: lũ lụt, hạn hán, gió bão,.Hậu quả của nó là đói nghèo và bệnh tật.
Việt Nam đƣợc coi là một trong những nƣớc thuộc vùng Đông Nam Á giàu về ĐDSH. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc, Indonesia và Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có ĐDSH cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới. Theo số liệu thống kê, Việt Nam có khoảng 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, 1.500 loài tảo và 826 loài nấm.000 loài đƣợc nhân dân sử dụng: làm lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác.
Hệ thực vật Việt Nam chứa đựng 3 luồng di cƣ chính: từ Nam Trung Quốc xuống, từ Himalaya - Mianma sang và từ Indonesia – Malaysia lên. Hệ thực vật Việt Nam còn có mức độ đặc hữu cao với khoảng 33% số loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam (Pocs Tamas, 1965) và hơn 40% tổng số loài thực vật toàn quốc (Thái Văn Trừng, 1975) Vấn đề Bảo tồn ĐDSH có ý nghĩa chiến lƣợc trong thời đại hiện nay. Hội nghị thƣợng đỉnh Rio de Janeiro ngày 5 tháng 6 năm 1992 là tiếng chuông thức tỉnh toàn thế giới “Hãy cứu lấy trái đất”, bởi vì sự ĐDSH liên 2 quan đến sự sống của trái đất. Việt Nam là một trong những trung tâm ĐDSH cao của thế giới, nên vấn đề bảo tồn ĐDSH là một yêu cầu rất cấp bách, đã từ lâu, Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm tới điều đó.
Đến nay cả nƣớc ta đã có tới 32 Vƣờn Quốc gia (VQG) và hàng trăm khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) đƣợc Nhà nƣớc công nhận. Chính phủ nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có quyết định phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2020,tầm nhìn đến năm 2030”. Một trong những mục tiêu cụ thể của bản kế hoạch đã đƣợc phê duyệt là từ nay đến năm 2030 củng cố hoàn thiện và phát triển hệ thống rừng đặc dụng, bảo vệ có hiệu quả các loài động vật, thực vật quý hiếm, nguy cấp có nguy cơ bị tuyệt chủng, phục hồi hệ sinh thái đã bị suy thoái. Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh đƣợc đánh giá là một trong ba KBTTN có diện tích lớn của tỉnh Hòa Bình, chỉ sau KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông và Thƣợng Tiến, nơi còn sót lại tới 90% diện tích Khu bảo tồn là rừng nguyên sinh.
Khu vực này đƣợc xem nhƣ là đại diện của kiểu rừng kín thƣờng xanh nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp, đặc trƣng cho khu vực Tây Bắc tỉnh Việt Nam. KBTTN Phu Canh đƣợc các nhà khoa học trong nƣớc và quốc tế đánh giá là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao của vùng Tây Bắc, Việt Nam với thành phần động, thực vật phong phú, đa dạng. KBTTN Phu Canh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lƣợc bảo tồn đa dạng sinh học của quốc gia, khu vực và quốc tế. Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về tài nguyên thực vật đƣợc triển khai tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ.
Vì vậy, chúng tôi đề xuất đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu bảo tồn các loài thực vật quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh tỉnh Hòa Bình” góp phần bảo tồn và phát triển các nguồn gen thực vật quý hiếm, bảo vệ tính ĐDSH trong khu vực và nâng cao vai trò của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Phu Canh đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình và cộng đồng dân cƣ sinh sống quanh khu vực này. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu Hiện nay trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam đa dạng sinh học đang ngày càng suy giảm làm cho số lƣợng các loài động thực vật giảm từng ngày từng giờ, đặc biệt là các loài động, thực vật quý hiếm. Yêu cầu đặt ra là phải phân cấp đánh giá các loài động thực vật để từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn chúng một cách có hiệu quả.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trƣờng sống bị thu hẹp diện tích và nhiều loài đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tƣơng lai gần. * Về cơ sở sinh học Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trƣờng.là cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con ngƣời và thế giới tự nhiên. * Về cơ sở bảo tồn Hiện nay số lƣợng các loài động, thực vật đang giảm rất mạnh làm ảnh hƣởng rất lớn đến đa dạng sinh học.
Sự sống của các loài động, thực vật đang bị đe dọa nghiêm trọng, đặc biệt là các loài động, thực vật quý hiếm. Vấn đề cấp thiết đặt ra là phải phân cấp đánh giá các loài động thực vật để từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn chúng một cách có hiệu quả. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của Sách Đỏ thế giới, Chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách Đỏ Việt Nam (2007) [29], để hƣớng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học đƣợc sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của 4 Nhà nƣớc về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trƣờng sinh thái.
Các loài đƣợc xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng nhƣ: tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thƣớc quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation). + Tuyệt chủng (EX): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật đƣợc quy định trong Sách Đỏ IUCN. Một loài hoặc dƣới loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết. + Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW): là một trạng thái bảo tồn của sinh vật.
Một loài hoặc dƣới loài bị coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lƣỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của loài đều không ghi nhận đƣợc cá thể nào. Các khảo sát nên vƣợt khung thời gian thích hợp cho vòng sống và dạng sống của đơn vị phân loại đó. Các cá thể của loài này chỉ còn đƣợc tìm thấy với số lƣợng rất ít trong sinh cảnh nhân tạo và phụ thuộc hoàn toàn vào chăm sóc của con ngƣời. + Cực kì nguy cấp (CR): là một trạng thái bảo tồn của sinh vật.
Một loài hoặc nòi đƣợc coi là cực kỳ nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tƣơng lai rất gần. + Nguy cấp (EN): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài bị coi là Nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tƣơng lai rất gần nhƣng kém hơn mức cực kỳ nguy cấp. + Sắp nguy cấp (VU): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật.
Một loài hoặc nòi bị đánh giá là Sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc CR và Nguy cấp (EN) nhƣng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tƣơng lai không xa. 5 + Sắp bị đe dọa: là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc nòi bị đánh giá là Sắp bị đe dọa khi nó sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tƣơng lai không xa. + Ít lo ngại (Least concern) – Ic: bao gồm các taxon không đƣợc coi là phụ thuộc bảo tồn hoặc sắp bị đe dọa.
+ Thiếu dẫn liệu (Data Deficient) – DD: Một taxon đƣợc coi là thiếu dẫn liệu khi chƣa đủ thông tin để có thể đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp về nguy cơ tuyệt chủng, căn cứ trên sự phân bố và tình trạng quần thể. + Không đƣợc đánh giá (Not Evaluated) – NE: Một taxon đƣợc coi là không đánh giá khi chƣa đƣợc đối chiếu với các tiêu chuẩn phân hạng. Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP)[8]. Nghị định quy định các loài động, thực vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính: + IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại (IA đối với thực vật rừng).
+ IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại (IIA đối với thực vật rừng). Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình có rất nhiều loài động thực vật đƣợc xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần đƣợc bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến hành đề tài này.