Đặt vấn đề Những năm gần đây, vai trò của rừng ngày càng được nhận thức rõ hơn bao giờ hết. Rừng cung cấp gỗ và lâm đặc sản quý phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của hàng triệu đồng bào miền núi. Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một trong những giải pháp tốt nhất cho bảo vệ và phát triển rừng là kinh doanh lâm sản ngoài gỗ. Nó cho phép tạo được nguồn thu nhập kinh tế ổn định cho người dân miền núi trong khi vẫn bảo vệ và phát triển được rừng.
Kinh doanh lâm sản ngoài gỗ đang nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân miền núi. Trong tự nhiên có rất nhiều loại cây rừng có mủ thơm và có mùi đặc trưng, do đó đã được con người từ đời xa xưa đến nay sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó có nghề làm Hương (nhang). Đó là nghề tạo ra sản phẩm được sử dụng rất rộng rãi, phổ biến trong đời sống người dân mà không gì thay thế được. Thắp nhang là nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong ngày Tết, các dịp lễ của Phật giáo, hoặc các dịp chạp giỗ, lễ, đám ma.
Có thể khẳng định, nén nhang đã len lỏi vào tận hang cùng ngõ ngách của đời sống và có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người Việt Nam. Cây nhang, nén hương như chiếc cầu nối thiêng liêng giữa con người với cõi tâm linh, trời đất, thậm chí còn lan rộng đến một số nước ở châu Á và cộng đồng người Việt sống ở châu Âu cũng như toàn thế giới. Những ngày cuối năm, các gia đình khi đi mua sắm các thứ lễ vật để chuẩn bị cho ngày Tết, hầu như ai cũng mua những hộp nhang, hương thơm về cúng Phật, cúng ông bà Tổ tiên của mình. Khi vào thời khắc giao thừa, lúc giao hòa giữa năm cũ và năm mới, giữa trời và đất cả dân tộc Việt Nam đón chào hân hoan, cầu mong gia đạo bình an, đời sống thịnh vượng, hạnh phúc và một năm làm ăn phát tài phát lộc.
Đêm giao thừa, cả gia đình quây quần bên nhau, thắp trên bàn thờ vài nén nhang, hương thơm để cùng tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, cha mẹ, những người kính yêu đã khuất. Sự lan tỏa của làn khói trắng, mùi thơm dịu nhẹ thoang thoảng cùng với cái không khí lành lạnh của không gian tĩnh mịch làm cho ta thấy ấm cúng và gắn bó với nhau nhiều hơn. Trong tâm n 2 thức của người Việt Nam đều tin tưởng ở thế giới bên kia, trong khoảng không gian vô định, có những hình ảnh, những con người đang hướng về chúng ta, đang ở bên chúng ta hằng ngày. Và khi thắp cây nhang, nén hương lên, ta có thể tâm sự với họ, sưởi ấm với cả thế giới này và cả thế giới vô hình kia nữa.
Đó là lòng kính yêu, thành kính của chúng ta. Nghề làm Hương thẻ hiện nay có rất nhiều nơi trên cả nước sản xuất, trong đó có huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Sản phẩm làm ra chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu sử dụng tại địa phương, chứ chưa phổ biến và lan rộng tới các địa phương khác trong cả nước. Do đó, cần có phương pháp sản xuất phù hợp, mở rộng thị trường tiêu thụ, đồng thời phải tạo ra được sản phẩm mang tính đặc trưng của dân tộc Nùng.
Một số loài cây nguyên liệu dùng để sản xuất Hương thẻ hiện nay đang giảm dần về số lượng do bị khai khác quá nhiều để sử dụng cho các mục đích khác nhau, phục vụ nhu cầu của cuộc sống người dân. Cần đánh giá đúng những thuận lợi và khó khăn, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển, quản lí bền vững tập đoàn cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương có trên địa bàn, góp phần tạo công ăn việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân. Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm loài cây rừng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ của đồng bào dân tộc Nùng tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn”. Nhằm nghiên cứu và bảo vệ nghề làm Hương, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nùng tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
Mục đích nghiên cứu Nhằm nghiên cứu một số loài cây rừng dùng để sản xuất Hương thẻ tại địa phương, quy trình sản xuất và mức độ phân bố các cây nguyên liệu trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng sơn. Làm cơ sở khoa học đánh giá thực trạng sản xuất từ nguyên liệu sẵn có, đề xuất các giải pháp phát triển nhằm quản lí tốt nguồn nguyên liệu sản xuất Hương. Góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho người dân, tận dụng nguồn lực, tiềm năng tại chỗ và góp phần bảo tồn được đa dạng sinh học, nâng cao giá trị nguồn LSNG ở địa phương. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Nghiên cứu các loài cây nguyên liệu trong tự nhiên có thể làm Hương thẻ tại khu vực nghiên cứu.
- Tìm hiểu được quy trình sản xuất chế biến Hương thẻ từ cây nguyên liệu ở địa phương. - Đề xuất một số giải pháp phát triển và bảo tồn các loài cây nguyên liệu làm Hương thẻ tại khu vực ngiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất một cách có hiệu quả.
- Giúp bản thân tôi có thêm kinh nghiệm trong việc giao tiếp cộng đồng, làm việc với người dân, vận dụng kiến thức được học để đi điều tra, thu thập, xử lí số liệu và viết báo cáo một cách chính xác, hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần giữ gìn và phát huy được nghề truyền thống có từ lâu đời ở địa phương, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, bảo tồn đa dạng sinh học các cây nguyên liệu bản địa quý, có giá trị. - Tuy đề tài chỉ mới chỉ đề cập một số đặc điểm hình thái, sinh thái loài, lại tiến hành trong một thời gian ngắn nhưng được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn, cùng người dân địa phương, tôi hy vọng đề tài có thể sử n 4 dụng để nghiên cứu đặc tính sinh thái các loài cây sử dụng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ, nhằm bảo tồn các loài thực vật tại Huyện Bình Gia – Lạng Sơn nói riêng và cả nước nói chung. Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Trong mỗi người dân Việt Nam đều coi Hương là một công cụ đặc biệt quan trọng đối với đời sống hàng ngày, và đặc biệt là đời sống tâm linh. Ai trong chúng ta cũng đã ít nhiều quen với việc thắp Hương, dâng Hương. Cho dù không tin vào thần thánh, vào thế giới bên kia, nhưng chúng ta đều tin rằng nén Hương và hương thơm của nó giúp chúng ta ấm áp tâm hồn. Nghề làm Hương được rất nhiều vùng miền trên cả nước làm ra, tuy nhiên mỗi nơi lại mang những nét đặc trưng, bí quyết riêng biệt tạo nên những nén hương mỗi khi thắp lên đều mang hương vị, dấu ấn in đậm ở mỗi vùng.
Nén hương vòng cháy theo chiều kim đồng hồ như chính vòng xoáy nhân sinh của cuộc đời, đó là vòng đời của mỗi con người nơi trần thế. Và tất cả chúng ta, cuối cùng cũng đi đến một mục đích, vươn tới giá trị đích thực của cõi tâm linh, vươn tới những điều: Chân - Thiện - Mỹ của cuộc đời. Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta, dù thành thị hay nông thôn, mỗi khi Tết đến, Xuân về đều thắp lên trong nhà mình một nén hương để tỏ lòng thành kính với ông bà, tổ tiên. Một nén hương cầu chúc hạnh phúc cho mọi người trong gia đình, để cầu xin bình an trong năm mới và để cho không khí của những ngày đầu năm thêm ấm áp và tươi vui.mùa Xuân là mùa có nhiều hội hè, mùa tảo mộ, thanh minh.
Ngày Xuân cũng là thời gian họp mặt của những người trong gia đình, cùng nhau đi viếng chùa cầu phúc. Những nén hương được thắp lên và mọi người cảm thấy ấm lòng. Nén hương lúc này không còn là thứ hàng hóa rẻ tiền nữa mà nó đã trở thành một sản phẩm tinh thần không thể thiếu của người dân Việt. Cùng với những phong tục truyền thống khác, nén hương đã góp phần tạo nên và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.[11] Thấy được vai trò của lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đối với các nước đang phát triển nhất là các nước vùng nhiệt đới, nhiều tổ chức quốc tế đã tiến hành n 5 nhiều dự án nhằm làm rõ vai trò của LSNG, các chính sách liên quan, thông tin tiếp thị, … Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp đặt tại Indonesia (CIFOR) đã chú trọng nhiều về LSNG.
Trung tâm đã đề ra phương pháp phân tích với lâm sản thương mại thế giới. Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp (ICRAF) đã và đang thực hiện làm thế nào để sản xuất, nâng cao chất lượng của cây rừng có nhiều tiềm năng. Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) và trung tâm đào tạo vùng lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) cũng có nhiều nghiên cứu về LSNG trong đó cách tiếp cận về phương pháp luận về “từ sản xuất đến hệ thống tiêu thụ” coi nhiệm vụ của rừng là sản xuất cần thiết cho cung cấp bền vững, phân phối thu nhập, đảm bảo thị trường và chính sách thị trường định chế[13]. Trên thế giới cộng đồng quốc tế, có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi tài nguyên rừng vào đầu những năm 1980.
Một chiến lược bảo tồn mới được hình thành và khẳng định tính ưu việt của nó. Đó là liên kết quản lý bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với các họat động sinh kế của các cộng đồng địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng, trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định. Một dự án đã được thử nghiệm với tên gọi: “quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Pu kheio Wildife Santuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông Bắc Thái Lan.