Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu một số loài cây rừng làm nguyên liệu sản xuất Hương của đồng bào dân tộc Thái tại huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An" do sinh viên Vi Văn Vệ thực hiện năm 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Tiến và TS. Nguyễn Văn Thái. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Lâm nghiệp, tập trung vào lĩnh vực lâm sản ngoài gỗ (LSNG) và tri thức bản địa trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thực vật rừng.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định xuất phát từ vai trò ngày càng quan trọng của lâm sản ngoài gỗ trong việc tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân miền núi gắn liền với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Tại Việt Nam, tập quán dâng hương là nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng truyền thống lâu đời. Tuy nhiên, việc khai thác tự nhiên quá mức nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu làm hương đã khiến số lượng nhiều loài cây hương liệu bị suy giảm nghiêm trọng. Huyện Con Cuông là huyện miền núi vùng cao phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, có diện tích đất lâm nghiệp lớn (gần 154.600 ha, chiếm 88,91% diện tích tự nhiên, độ che phủ rừng đạt 75,7%), dân số 67.387 người trong đó dân tộc Thái chiếm 67,56%. Mặc dù có tiềm năng tài nguyên đa dạng, tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương còn cao (37% năm 2010). Nghề làm hương tại địa phương chủ yếu mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, phục vụ nhu cầu nội vùng và chưa khai thác hết giá trị kinh tế của tập đoàn cây hương liệu bản địa.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Bổ sung kiến thức khoa học về các loài cây rừng có thể làm hương trong tự nhiên, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này; nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nghề rừng, tận dụng nguồn lực bản địa, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực Tây Bắc Nghệ An.
  2. Mục tiêu cụ thể:
  • Tìm hiểu kinh nghiệm truyền thống của người dân địa phương trong việc nhận biết, chọn loài cây và kỹ thuật gây trồng các loài cây nguyên liệu làm hương.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật, kinh tế và chính sách nhằm quản lý, phát triển và bảo tồn các loài cây nguyên liệu làm hương tại khu vực nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 5 nội dung chính:

  1. Điều tra tình hình sử dụng một số loài cây rừng làm nguyên liệu sản xuất hương của dân tộc Thái tại xã Bình Chuẩn.
  2. Xác định đặc điểm phân loại học, phân bố và sinh trưởng của các loài cây nguyên liệu.
  3. Tổng hợp kinh nghiệm, quy trình kỹ thuật chế biến và sản xuất hương truyền thống của đồng bào địa phương.
  4. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển nghề làm hương tại địa bàn.
  5. Đề xuất các giải pháp quản lý, phát triển và sử dụng bền vững tập đoàn cây rừng làm nguyên liệu hương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài cây rừng cung cấp nguyên liệu (rễ, thân, vỏ, hoa, quả, lá) phục vụ sản xuất hương truyền thống.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa tại xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An (tập trung khảo sát tại 3 thôn/bản: Bản Quăn, Bản Quẻ, Bản Mét).
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng trên cơ sở lý luận về quản lý và phát triển lâm sản ngoài gỗ (LSNG) của các tổ chức quốc tế và nhà khoa học trong nước. Tác giả tổng hợp các định nghĩa tiêu biểu về LSNG của J. de Beer (1992, 2000), FAO (1994, 1999), cùng quan điểm phân loại LSNG tại Việt Nam của Vũ Văn Dũng, Hoàng Hữu Nguyên và Trịnh Vỹ (2001). Khung phân tích nhấn mạnh mục tiêu của ngành lâm nghiệp đến năm 2020: LSNG trở thành ngành hàng sản xuất chính, đóng góp trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị xuất khẩu tăng 15 - 20%/năm và tạo sinh kế cho khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn. Về cơ chế tạo hương, đề tài kế thừa các công trình nghiên cứu sinh học của Shiva (Ấn Độ), Julajudin (Malaysia), Naiyna Thongijem (Thái Lan) về vai trò cộng sinh của các chủng nấm (Fusarium, Botryodiplodia, Chaetomium...) trong quá trình hình thành trầm hương trên cây Dó bầu (Aquilaria crassna).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm các hợp phần:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập và tổng hợp số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng), tài nguyên rừng và các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Con Cuông và xã Bình Chuẩn.
  • Phương pháp điều tra xã hội học nông thôn: Sử dụng phiếu câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp 30 hộ dân ngẫu nhiên tại xã Bình Chuẩn, kết hợp phỏng vấn sâu các chủ hộ sản xuất hương truyền thống, cán bộ ủy ban nhân dân xã và cán bộ kiểm lâm địa bàn nhằm thu thập dữ liệu về tên địa phương, bộ phận sử dụng, mùa vụ thu hái, mức độ sử dụng và thị trường tiêu thụ.
  • Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập 9 tuyến điều tra thực địa phân bố đều tại 3 thôn (Bản Quăn: 3 tuyến; Bản Quẻ: 3 tuyến; Bản Mét: 3 tuyến). Tuyến điều tra cắt qua các trạng thái rừng tự nhiên và rừng trồng. Trên mỗi tuyến, tác giả bố trí 10 điểm dừng quan sát cố định, mở rộng phạm vi khảo sát sang hai bên từ 2 đến 10 m để ghi nhận sự hiện diện của các loài cây hương liệu.
  • Phương pháp đánh giá tần số xuất hiện: Mức độ bắt gặp của các loài trên tuyến được lượng hóa theo thang điểm 4 mức:
    • Không xuất hiện: 0 điểm;
    • Xuất hiện ít: 0 - 5 điểm;
    • Xuất hiện trung bình: 5 - 7,5 điểm;
    • Xuất hiện nhiều: > 7,5 điểm.
  • Phương pháp phân loại và mô tả hình thái thực vật học: Thu thập mẫu vật ngoài thực địa, kết hợp kinh nghiệm phân loại của người dân địa phương và tham vấn chuyên gia lâm nghiệp để giám định tên khoa học, mô tả đặc điểm hình thái, vùng phân bố và đặc tính sinh vật học.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài, khẳng định ý nghĩa văn hóa - tâm linh của nén hương trong đời sống người Việt và đồng bào các dân tộc thiểu số. Chương này xác định rõ mục đích nghiên cứu, mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận trong việc gắn kết bảo tồn đa dạng sinh học với nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc Thái tại miền núi Tây Bắc Nghệ An.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương tổng quan gồm 3 phần chính:

  1. Cơ sở khoa học và tổng quan nghiên cứu LSNG trên thế giới: Giới thiệu các dự án của CIFOR, ICRAF, FAO, RECOFTC về tiếp cận thị trường LSNG, quản lý rừng dựa vào cộng đồng và các công trình nghiên cứu cơ chế hình thành trầm hương trên cây Dó bầu.
  2. Tổng quan nghiên cứu LSNG và nguyên liệu làm hương tại Việt Nam: Điểm lại lịch sử quản lý LSNG từ giai đoạn trước năm 1975 đến nay; lược sử phong tục đốt hương qua các tài liệu văn hóa, Phật giáo và nghiên cứu dân tộc học của Phan Kế Bính (1915).
  3. Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Con Cuông: Phân tích địa hình bị chia cắt bởi sông Lam thành vùng tả ngạn (đồi núi thấp) và hữu ngạn (núi cao hiểm trở, đỉnh Phù Luông cao 1.400 m); khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng mạnh của gió phơn Tây Nam khô nóng (nhiệt độ tối cao 42 - 43°C); tài nguyên rừng phong phú với Vườn quốc gia Pù Mát; thực trạng kinh tế - xã hội huyện nghèo với nông - lâm nghiệp chiếm 47,53% cơ cấu kinh tế năm 2013.

Phần 3: Phạm vi, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa bàn nghiên cứu tại xã Bình Chuẩn (thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014). Tác giả mô tả chi tiết phương pháp luận, quy trình thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn 30 hộ dân, kỹ thuật lập 9 tuyến khảo sát thực địa tại 3 thôn (Bản Quăn, Bản Quẻ, Bản Mét), thang đo 4 mức độ đánh giá tần số xuất hiện của thực vật và các bước phân tích, xử lý số liệu sơ cấp, thứ cấp.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ các dữ liệu khảo sát thực tế và phân tích chuyên môn:

1. Tình hình sử dụng và danh lục thực vật làm nguyên liệu hương: Kết quả phỏng vấn 30 hộ dân và khảo sát cơ sở sản xuất đã xác định danh sách các loài thực vật chính được người dân địa phương sử dụng trong nghề làm hương.

STT Tên thông thường Tên tiếng Thái Tên khoa học Dạng sống Bộ phận sử dụng Mùa thu hái Nguồn gốc / Phương thức cung ứng
1 Rễ Hương Co Cả Tẹp Dianella ensifolia DC Thảo (khóm) Rễ Quanh năm Khai thác rừng tự nhiên / Trồng dưới tán rừng
2 Nứa Co Hịa Schizostachyum sp. Bụi (Tre nứa) Thân Quanh năm Khai thác rừng tự nhiên
3 Quế Co Quẻ Cinnamomum cassia BL Thân gỗ Vỏ cây Cuối tháng 3 - 6 Rừng trồng hộ gia đình
4 Trầm Hương Co Trầm Aquilaria crassna Thân gỗ Thân gỗ nhiễm dầu Quanh năm Mua, nhập từ nơi khác
5 Hồi Co Hồi Illicium verum Thân gỗ Quả (hoa) Tháng 3 - 11 Mua, nhập từ nơi khác
6 Thảo Quả Co Thảo Quả Amomum aromaticum Thân thảo Quả, hạt Tháng 8 - 10 (âm lịch) Mua, nhập từ nơi khác
7 Đinh Hương Co Đinh Hương Syzygium aromaticum Thân gỗ Nụ hoa khô / Thân Quanh năm Mua, nhập từ nơi khác
8 Mía Co Òi Saccharum officinarum L. Thân thảo Bã mía (thân) Tháng 10, 11 đến 4, 5 năm sau Cây trồng nông nghiệp
9 Vỏ Ô-đước - - Thân gỗ Vỏ cây Quanh năm Rừng tự nhiên (làm chất kết dính/bột hồ)
10 Bột Bắc - Hỗn hợp dược liệu - Hỗn hợp thân, rễ Quanh năm Nhập từ nơi khác (thuốc bắc phối trộn)

2. Tần số xuất hiện của các loài theo tuyến điều tra thực địa: Dữ liệu khảo sát trên 9 tuyến thực địa tại Bản Quăn, Bản Quẻ, Bản Mét (mỗi tuyến 10 điểm quan sát) được tổng hợp như sau:

STT Loài cây Tuyến 1 Tuyến 2 Tuyến 3 Tuyến 4 Tuyến 5 Tuyến 6 Tuyến 7 Tuyến 8 Tuyến 9 Điểm trung bình Tần số xuất hiện
1 Cây Nứa 9 8 8 9 8 8 9 8 6 8,10 9/9 tuyến (Xuất hiện nhiều)
2 Rễ Hương 5 10 5 5 7 2 4 7 2 5,20 9/9 tuyến (Xuất hiện trung bình)
3 Cây Quế 0 3 3 0 0 0 0 2 0 0,89 3/9 tuyến (Xuất hiện ít)
4 Cây Hồi 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0,00 0/9 tuyến (Không bắt gặp)
5 Trầm Hương 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0,00 0/9 tuyến (Không bắt gặp)
6 Thảo Quả 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0,00 0/9 tuyến (Không bắt gặp)
7 Đinh Hương 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0,00 0/9 tuyến (Không bắt gặp)

Phân tích cho thấy chỉ có Nứa và Rễ Hương là hai loài phân bố tự nhiên rộng khắp trên địa bàn xã Bình Chuẩn; Quế chỉ xuất hiện rải rác trong các vườn đồi, rừng trồng của hộ dân. Các loài hương liệu giá trị cao như Hồi, Trầm Hương, Thảo Quả, Đinh Hương không xuất hiện trên các tuyến điều tra tự nhiên mà các cơ sở sản xuất phải thu mua dưới dạng nguyên liệu thô hoặc bột chế biến sẵn từ địa phương khác.

3. Đặc tính sinh học và giá trị kinh tế của một số loài chính:

  • Cây Rễ Hương (Dianella ensifolia DC): Cây thân thảo mọc thành khóm, phân bố tự nhiên dưới tán rừng già, rừng nứa ẩm ven khe suối. Cây rất dễ trồng, thích ứng với nhiều loại đất dưới tán rừng. Thời gian từ khi trồng đến thu hoạch từ 14 đến 18 tháng, cho năng suất củ rễ cao, mang lại lợi nhuận thuần trên 50 triệu đồng/ha sau khi trừ chi phí.
  • Cây Quế (Cinnamomum cassia BL): Cây gỗ lớn thường xanh, thích hợp độ cao 300 - 800 m, lượng mưa 1.800 - 3.000 mm/năm. Rừng quế 8 - 10 năm tuổi cho thu hoạch khoảng 6.000 kg vỏ/ha, năng suất gỗ đạt 25 m³/ha/năm; hàm lượng tinh dầu vỏ đạt 2 - 4% (thành phần chính là Aldehyt Cinamic chiếm 70 - 90%).
  • Cây Nứa (Schizostachyum sp.): Phân họ Tre, sinh trưởng nhanh, mọc thành bụi dày đặc trong rừng tự nhiên; thân cây được khai thác quanh năm để chẻ tăm hương.
  • Cây Mía (Saccharum officinarum L.): Phụ phẩm bã mía (chứa 48% xơ, trong đó 45 - 55% cellulose) được phơi khô, nghiền mịn làm bột nền phối trộn sản xuất que hương.

4. Quy trình kỹ thuật chế biến, sản xuất hương truyền thống của người Thái: Quy trình gồm 4 công đoạn thủ công nối tiếp nhau:

  • Chẻ chân hương (tăm hương): Chọn tre, nứa bánh tẻ (không quá non hoặc quá già), cưa thành từng đoạn có chiều dài tương ứng cây hương. Dùng dao sắc chẻ thành thanh nhỏ, đem ngâm nước rồi phơi khô để que hương khi đốt cháy đều, đượm tàn. Các thanh tăm được vuốt tròn qua lỗ đục trên miếng tôn/sắt tây gắn trên bàn gỗ (đối với hương ma, hương đất thì không cần vuốt nhẵn). Tăm hương được bó thành từng muôn (10.000 hoặc 100.000 que) và nhuộm phẩm đỏ ở phần chân cắm.
  • Chế biến bột hương: Khai thác vỏ cây ô-đước từ rừng tự nhiên đem phơi khô, dùng cối đá giã nát rồi rây mịn. Bột mịn nhất gọi là bột áo (dùng bọc ngoài, có thể phối thêm bột gỗ mục tán mịn); bột hạt to hơn gọi là bột hồ (chất keo kết dính). Các loại thảo mộc tạo mùi (trầm hương, quế chi, thảo quả, đinh hương, hồi, bột thuốc bắc) được tán nhỏ, rây kỹ và phối trộn theo tỷ lệ riêng.
  • Kỹ thuật se mình hương (nhúng và lăn bột): Thao tác thực hiện trên bàn dài 2 thước, bố trí 3 đống bột theo thứ tự: Đống 1 (bột hồ keo nguyên chất), Đống 2 (hỗn hợp 1/2 bột hồ + 1/2 bột áo), Đống 3 (hỗn hợp 1/3 bột hồ + 2/3 bột áo). Người thợ cầm từng nắm tăm hương (chét), dùng kẹp gỗ giữ phần chân không bọc bột, nhúng phần thân vào thùng nước lạnh, vẩy ráo nước rồi vùi vào đống bột thứ nhất; lăn và rũ nhẹ cho bột bám đều, lặp lại 2 - 3 lần. Sau khi gác khô sơ bộ, tiếp tục nhúng nước lần 2 lăn qua đống bột thứ hai, và nhúng nước lần 3 lăn qua đống bột thứ ba để hoàn thiện độ dày của thân hương.
  • Phơi khô, đóng gói và tiêu thụ: Hương sau khi se được phơi trên giàn tre dưới nắng nhẹ hoặc trong bóng râm thoáng gió, sau đó bó thành thẻ, đóng gói tiêu thụ chủ yếu tại các chợ phiên, chợ huyện trong các dịp rằm, lễ Tết.

5. Đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển: Tác giả đề xuất nhóm giải pháp kỹ thuật (quy hoạch vùng gây trồng Rễ Hương, Quế dưới tán rừng, chuyển giao kỹ thuật ươm giống, khai thác luân phiên tránh hủy diệt) kết hợp nhóm giải pháp kinh tế - xã hội (tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi, kết nối kênh tiêu thụ ổn định, phát huy vai trò của Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và đưa nội dung bảo tồn tài nguyên LSNG vào chương trình giáo dục phổ thông tại địa phương).

Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Tóm tắt các kết quả đạt được về danh lục thực vật, đặc điểm phân bố, quy trình sản xuất hương; nêu rõ các tồn tại về thời gian khảo sát ngắn và đề xuất kiến nghị với các cơ quan quản lý lâm nghiệp địa phương trong việc hỗ trợ vốn, kỹ thuật gây trồng thương mại các loài cây hương liệu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả định lượng và đóng góp chuyên môn cụ thể:

  • Xác lập danh mục 8 loài thực vật chính cùng 2 nhóm phụ liệu (vỏ cây ô-đước, bột thuốc bắc) phục vụ nghề làm hương truyền thống tại huyện Con Cuông.
  • Định lượng mức độ phân bố thực địa của tập đoàn cây hương liệu qua 9 tuyến khảo sát tại xã Bình Chuẩn: Cây Nứa đạt điểm xuất hiện cao nhất (8,10 điểm - xuất hiện 9/9 tuyến), tiếp đến là cây Rễ Hương (5,20 điểm - xuất hiện 9/9 tuyến), cây Quế đạt mức thấp (0,89 điểm - xuất hiện 3/9 tuyến); các loài Trầm Hương, Hồi, Thảo Quả, Đinh Hương có điểm số bằng 0 do địa phương không có phân bố tự nhiên hoặc không trồng thương mại.
  • Chứng minh hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình trồng cây Rễ Hương dưới tán rừng tự nhiên: Chu kỳ canh tác 14 - 18 tháng, khả năng sinh trưởng tốt trên đất rừng, cho thu nhập thuần trên 50 triệu đồng/ha, mở ra hướng đi khả thi cho công tác xóa đói giảm nghèo vùng cao.
  • Hệ thống hóa chi tiết quy trình công nghệ 4 bước sản xuất hương thủ công truyền thống của người Thái từ việc chọn tre nứa, ngâm tăm, phối trộn bột keo ô-đước đến kỹ thuật se mình hương qua 3 đống bột.
  • Đóng góp khoa học: Bổ sung nguồn tư liệu thực chứng về tri thức bản địa và thực vật học dân tộc (ethnobotany) trong việc sử dụng LSNG tại vùng đệm Vườn quốc gia Pù Mát; cung cấp cơ sở thực tiễn giúp chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển sinh kế cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận đã thẳng thắn chỉ ra một số hạn chế do điều kiện thực hiện:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (5 tháng, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014) nên chưa theo dõi đầy đủ toàn bộ chu kỳ sinh trưởng, ra hoa và tạo quả quanh năm của một số loài cây thân gỗ.
  • Nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ mô tả hình thái, sinh thái học cơ bản và thống kê tần số xuất hiện; chưa tiến hành phân tích định lượng thành phần hóa học, hàm lượng tinh dầu hay hoạt tính kháng khuẩn của khói hương trong phòng thí nghiệm.
  • Phần lớn các nguyên liệu thơm cao cấp (trầm, hồi, đinh hương, thảo quả) các cơ sở sản xuất tại địa phương vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nhập từ bên ngoài do chưa tự chủ được công nghệ chế biến bột tinh sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:

  • Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ 13 xã của huyện Con Cuông và các huyện lân cận thuộc vùng Tây Bắc Nghệ An.
  • Thử nghiệm các mô hình lâm sinh nhân giống, gieo ươm và trồng thâm canh cây Rễ Hương xen canh cây Quế dưới tán rừng phòng hộ hoặc rừng sản xuất.
  • Nghiên cứu hoàn thiện công thức phối chế hương thảo mộc sạch, không sử dụng hóa chất độc hại nhằm nâng cao giá trị thương mại và xây dựng thương hiệu hương truyền thống cho đồng bào dân tộc bản địa.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên các chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh, Thực vật học và Nông lâm kết hợp: Tham khảo phương pháp thiết kế tuyến điều tra thực địa LSNG, thang điểm đánh giá tần số xuất hiện và phương pháp phỏng vấn xã hội học nông thôn.
  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp, khuyến lâm và chính quyền địa phương tại các tỉnh miền núi: Tham khảo cơ sở thực tiễn để xây dựng các dự án phát triển sinh kế dưới tán rừng, quy hoạch vùng trồng cây Rễ Hương và bảo tồn tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và hộ kinh doanh hương truyền thống: Tiếp cận quy trình kỹ thuật làm hương thủ công an toàn, tận dụng nguồn phụ phẩm nông - lâm nghiệp (bã mía, tăm nứa, vỏ ô-đước, rễ hương) thay thế cho hóa chất công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài cây rừng nào có tần số phân bố tự nhiên cao nhất và đóng vai trò làm chân hương tại khu vực nghiên cứu?
Cây Nứa (Schizostachyum sp.) là loài có tần số xuất hiện cao nhất trên thực địa, đạt điểm trung bình 8,10 điểm và xuất hiện tại 9/9 tuyến điều tra. Thân cây nứa bánh tẻ trong rừng tự nhiên được người dân khai thác quanh năm để cưa đoạn, chẻ nhỏ, ngâm nước, phơi khô và vuốt tròn làm tăm hương.

2. Cây Rễ Hương (Dianella ensifolia DC) mang lại giá trị kinh tế và sinh thái như thế nào tại xã Bình Chuẩn?
Cây Rễ Hương là cây thân thảo bản địa phân bố tự nhiên dưới tán rừng già, rừng nứa ẩm ven khe suối (điểm xuất hiện trung bình 5,20 điểm). Khi đưa vào trồng dưới tán rừng, sau 14 - 18 tháng cây cho thu hoạch củ rễ, mang lại lợi nhuận thuần trên 50 triệu đồng/ha sau khi trừ chi phí, góp phần tạo việc làm tại chỗ và giảm nghèo bền vững.

3. Tại sao các loài thực vật quý như Trầm Hương, Đinh Hương, Thảo Quả, Hồi lại có điểm tần số xuất hiện bằng 0 trên các tuyến điều tra?
Các loài cây này không phân bố tự nhiên hoặc không được trồng phổ biến tại các trạng thái rừng ở xã Bình Chuẩn trong thời gian khảo sát. Do các cơ sở sản xuất hương tại địa phương có quy mô nhỏ, chưa có thiết bị chế biến tinh sâu từ cây tươi nên chủ yếu mua nguyên liệu thô hoặc bột thành phẩm đã qua sơ chế từ các địa phương khác mang về phối trộn.

4. Kỹ thuật se mình hương của đồng bào dân tộc Thái được thực hiện qua các đống bột nào?
Thao tác se mình hương sử dụng bàn gỗ dài 2 thước bày 3 đống bột riêng biệt: Đống thứ nhất gồm bột hồ keo (vỏ cây ô-đước giã mịn); Đống thứ hai gồm tỷ lệ 1/2 bột hồ kết hợp 1/2 bột áo; Đống thứ ba gồm 1/3 bột hồ kết hợp 2/3 bột áo. Tăm hương sau khi nhúng nước được vùi lăn qua từng đống bột theo thứ tự từ đống 1 đến đống 3 để bột keo và bột thơm bám chặt tạo thành thân que hương hoàn chỉnh.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vi Văn Vệ đã phản ánh toàn diện hiện trạng sử dụng và phân bố của tập đoàn cây rừng làm nguyên liệu sản xuất hương tại xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu đã định lượng được mức độ xuất hiện thực địa của các loài chủ lực như Nứa, Rễ Hương, Quế, đồng thời hệ thống hóa chi tiết quy trình chế biến hương thủ công mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Thái. Kết quả đề tài khẳng định tiềm năng to lớn của việc phát triển lâm sản ngoài gỗ, cung cấp luận cứ khoa học xác đáng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân miền núi.