ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em là mục tiêu ưu tiên hàng đầu của ngành Y tế cũng như trong các chương trình nghị sự của nước ta. Các can thiệp nâng cao sức khỏe, giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong cho phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là các ưu tiên bảo đảm cuộc đẻ an toàn đã được triển khai nhiều năm nay và đã đạt được nhiều thành công rõ rệt. Theo số liệu báo cáo tổng kết của Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em năm 2011, tỷ lệ quản lý thai trong toàn quốc đạt tới 92,2%; tỷ lệ phụ nữ sinh con có cán bộ đã được đào tạo hỗ trợ khi đẻ đạt 97,4% và 92,6% số bà mẹ được chăm sóc sau sinh [23]. Kết quả của các can thiệp được bao phủ trên diện rộng như vậy đã góp phần quyết định trong việc giảm tử vong mẹ một cách rõ rệt.
So sánh kết quả của 2 điều tra quốc gia về tử vong mẹ của Bộ Y tế cho thấy, tỷ lệ tử vong mẹ đã giảm từ 165/100.000 trẻ đẻ sống từ năm 2001 – 2002 xuống còn 69/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2006 – 2007 [12]. Tuy nhiên, không phải tất cả các phụ nữ trong nước ta đều được hưởng những thành quả về chăm sóc sức khỏe như nhau. Sự khác biệt rất lớn giữa các vùng địa lý và giữa các vùng kinh tế - xã hội còn là một thực tế khó chấp nhận. Theo đánh giá chiến lược Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản giai đoạn 2000 – 2010, tỷ lệ tử vong trẻ em ở các khu vực miền núi, vùng sâu, hẻo lánh, nông thôn hay trong các gia đình nghèo cao gấp 3 - 4 lần so với vùng đồng bằng và các gia đình khá giả [20].
Số liệu “Điều tra và đánh giá các Mục tiêu Trẻ em và Phụ nữ 2011 tại Việt Nam” cho thấy vẫn còn có tới 38,3% bà mẹ là dân tộc thiểu số sinh con tại nhà; 10,8% các bà mẹ dân tộc thiểu số được bà đỡ/bà mụ vườn đỡ đẻ; tỷ lệ bà mẹ sinh con mà không có ai đỡ đẻ là 1,6%, tập trung ở các vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung [17]. Đặc biệt, ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ đa số người dân có điều kiện kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, trình độ học vấn thấp vẫn còn tồn tại những phong tục, tập quán có hại cho sức khỏe. Trong nghiên cứu các phong tục, tập quán về thực hành khi mang thai và trong sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số ở Nghệ An (2005) cũng như trong các nghiên cứu khác được tiến hành trong giai đoạn 2000 đến 2006 đều cho thấy việc sinh con có sự giúp đỡ của mụ vườn và 2 người nhà là phổ biến. Sinh con tại nhà, không được sự hỗ trợ của cán bộ y tế là một vấn đề tồn tại chưa được cải thiện nhiều trong cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế ở khu vực có các dân tộc thiểu số sinh sống [29], [41].
Kỳ Sơn là một huyện miền núi nghèo của Nghệ An, các hoạt động y tế trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản còn gặp nhiều khó khăn. Rất nhiều bà mẹ dân tộc thiểu số không được chăm sóc thai nghén, khi sinh đẻ và sau đẻ. Theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2012 của Trung tâm y tế huyện Kỳ Sơn, chỉ có 50% phụ nữ có thai đi khám thai đủ 3 lần, số ca đẻ tại nhà chiếm hơn 40%. Trong năm 2012, toàn huyện cũng đã có 3 ca băng huyết, 1 ca nhiễm trùng sau đẻ và 7 ca tử vong sơ sinh mà nguyên nhân là do sinh con tại nhà khi đưa đến bệnh viện thì đã quá muộn [19].
Hiện trạng này thực sự là vấn đề bức xúc của địa phương cần được ưu tiên can thiệp. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sinh con tại nhà của bà mẹ dân tộc thiểu số ở ba xã, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An năm 2012” với tham vọng là có thể cung cấp những số liệu khoa học góp phần đề xuất các biện pháp can thiệp tăng cường chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh ở địa bàn nghiên cứu. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng sinh con tại nhà của các bà mẹ dân tộc Thái, H‟mông, Khơ Mú sinh con trong năm 2012 tại 3 xã Mường Lống, Chiêu Lưu, Bảo Nam huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An 2.
Xác định một số yếu tố liên quan tới sinh con tại nhà trong năm 2012 của các bà mẹ này tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Mang thai và sinh đẻ là thiên chức đặc biệt mà tạo hóa ban tặng cho người phụ nữ. Ý nghĩa trọng đại của các sự kiện này không những chỉ là duy trì nòi giống mà còn hướng tới xây dựng một xã hội với những gia đình hạnh phúc và mỗi một thành viên được sống với chất lượng cuộc sống cao. Để tiến tới mục tiêu tốt đẹp đó việc đảm bảo an toàn cho các bà mẹ mang thai, sinh đẻ và chăm sóc tốt, tạo một khởi đầu tốt đẹp cho những đứa trẻ mới ra đời là những chăm sóc quan trọng nhất đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Tuy nhiên, một thực tế đau lòng vẫn tiếp tục xảy ra là cứ 5 phút trôi qua lại có 3 phụ nữ tử vong vì liên quan quan đến mang thai và sinh đẻ và khoảng 30 trẻ sinh ra tử vong khi chưa kịp có lễ ăn mừng tròn tháng [44].
Thêm vào đó, có khoảng 50.000 phụ nữ mắc bệnh do hậu quả của quá trình sinh đẻ không an toàn và thiếu chăm sóc sau đẻ, trong số đó có khoảng 15% để lại biến chứng lâu dài hoặc tàn tật vĩnh viễn [43]. Trước thực trạng đó, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), Ngân hàng Thế giới (WB) và Hội đồng dân số thế giới đã khởi xướng sáng kiến Làm mẹ an toàn (LMAT) vào năm 1987 nhằm mục tiêu là bảo đảm tất cả các phụ nữ đều được nhận sự chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khỏe mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ [9]. Sáng kiến LMAT đã được hơn 100 quốc gia, trong đó có nước ta và các tổ chức quốc tế chọn làm chương trình hành động. Nhiều chương trình can thiệp đã được thực hiện nhằm tăng cường chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh và đã từng bước đạt được nhiều kết quả mong muốn.
Theo báo cáo WHO và UNICEF thì trong số 76 nước được khảo sát trên thế giới, có 8 nước được công nhận là đang trên đà tiến tới đạt mục tiêu Thiên niên kỷ 5 là giảm 75% tỷ lệ tử vong mẹ vào năm 2015 so với số liệu năm 1990. Nước ta vinh dự là một trong số các nước đó với thành tựu vừa giảm tử vong mẹ và vừa giảm tử vong trẻ em và cũng đang tiến tới đạt Mục tiên Thiên niên kỷ 4 – giảm 2/3 tỷ lệ tử vong trẻ dưới năm tuổi [1]. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Làm mẹ an toàn: nghĩa là đảm bảo rằng mọi phụ nữ đều nhận được sự chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khỏe mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ [1].
Chăm sóc trƣớc sinh: là những dịch vụ đáp ứng việc chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt [1]. Chăm sóc trong khi sinh: là theo dõi và chăm sóc bà mẹ, nhằm tiên lượng cuộc đẻ để có hướng xử trí thích hợp, đảm bảo cho quá trình sinh đẻ được an toàn [1]. Chăm sóc sau sinh: là những chăm sóc tính từ sau khi cuộc đẻ được hoàn tất đến 42 ngày sau đẻ, phát hiện những bất thường để xử trí, hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ sơ sinh khỏe mạnh [1]. Tử vong mẹ: những trường hợp phụ nữ bị tử vong trong thời gian mang thai hoặc 42 ngày sau khi chấm dứt thai nghén vì bất kỳ lý do gì trừ nguyên nhân tử vong do tai nạn và tự tử.
Tỉ số tử vong mẹ (MMR) là tổng số ca tử vong mẹ trên 100. Tỉ số này cho biết nguy cơ tử vong mẹ trong thời gian mang thai và sau sinh [13]. Tử vong sơ sinh: là những trường hợp trẻ bị tử vong trong vòng 28 ngày đầu sau đẻ trên 1000 trẻ đẻ sống trong năm [2]. Thực trạng sinh con tại nhà trên thế giới và Việt Nam 1.
Trên thế giới Ở một số nước việc sinh con cũng như lựa chọn nơi sinh thực sự do người phụ nữ quyết định. Theo nghiên cứu của Banyana Cecilia and Rosemary Crow (2003) về những thông tin sẵn có cho bà mẹ lựa chọn nơi sinh ở miền Đông Nam nước Anh. Ở đây phụ nữ được trao quyền bằng việc họ được cung cấp đầy đủ thông tin thích hợp về tất cả các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và họ có quyền lựa chọn nơi sinh của mình [31]. Ở Thụy Điển, người ta cho rằng sinh con ở nhà do người phụ nữ tự phán quyết tình hình dựa theo kinh nghiệm của bản thân, đó là sự đảm 6 bảo quyền tự quyết và tin tưởng vào khả năng, đức tin của họ vào một thế lực tâm linh tự nhiên, tuy nhiên nghiên cứu này cũng đồng ý việc sinh con theo cách riêng của bà mẹ với điều kiện môi trường đảm bảo và có sự hỗ trợ của người xung quanh khi cần thiết [38].
Sinh con tại nhà là một trong những lựa chọn của các bà mẹ khi họ được cung cấp đầy đủ các thông tin về tình trạng thai nhi, sức khỏe bà mẹ và có sự trợ giúp của Nữ hộ sinh. Một nghiên cứu ở Anh cho thấy rằng chi phí cho một ca đẻ thường khi sinh con tại nhà chỉ bằng 68% so với chi phí cho một ca đẻ tại bệnh viện [27]. Tuy nhiên tỷ lệ sinh con tại nhà của các nước này là rất thấp vì các bà mẹ luôn có thói quen sử dụng các dịch vụ y tế tại bệnh viện. Hầu hết các bà mẹ đều có dự định đẻ tại bệnh viện và họ cho rằng không nên thay đổi quyết định này ngay cả khi họ có thể đẻ tại nhà [24].