Luận án về đa dạng cảnh quan và tổ chức lãnh thổ sản xuất tỉnh Đắk Lắk

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu đa dạng cảnh quan phục vụ tổ chức lãnh thổ sản xuất tỉnh đắk lắk, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Trường Đại Học Tây Nguyên

Chuyên ngành

Địa lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

172
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu và nhiệm vụ

0.3. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Các luận điểm bảo vệ

0.5. Những điểm mới của đề tài

0.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.6.1. Ý nghĩa khoa học

0.6.2. Ý nghĩa thực tiễn

0.7. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN VÀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

1.1.1. Công trình nghiên cứu lí luận cảnh quan

1.1.1.1. Nghiên cứu lí thuyết cảnh quan học

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM PHÂN HOÁ ĐA DẠNG CỦA CẢNH QUAN TỈNH ĐẮK LẮK

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT TỈNH ĐẮK LẮK TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN

KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu đa dạng cảnh quan tại Đắk Lắk có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ sản xuất. Đắk Lắk, với vị trí chiến lược và tiềm năng phát triển kinh tế lớn, cần có những nghiên cứu sâu sắc về đa dạng sinh họccảnh quan tự nhiên. Việc đánh giá và phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội sẽ giúp xác định các giải pháp phát triển bền vững. Đặc biệt, sự phân hoá đa dạng của cảnh quan sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho việc quy hoạch và tổ chức lãnh thổ sản xuất. "Cảnh quan với thuộc tính phân hoá đa dạng trong không gian và biến đổi theo thời gian sẽ giúp chúng ta nắm vững thực tiễn". Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu để phát triển kinh tế - xã hội mà vẫn bảo vệ môi trường.

II. Mục tiêu và nhiệm vụ

Mục tiêu chính của nghiên cứu là làm sáng tỏ đặc điểm phong phú của tự nhiên qua phân tích và đánh giá quy luật phân hoá, tính đa dạng cảnh quan lãnh thổ tỉnh Đắk Lắk. Nhiệm vụ bao gồm tổng quan tài liệu, xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan, và đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên và kinh tế - xã hội. "Đề xuất tổ chức lãnh thổ, định hướng không gian bố trí các ngành sản xuất là hướng tiếp cận hiệu quả". Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một kế hoạch rõ ràng để sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đồng thời phát triển kinh tế bền vững.

III. Đặc điểm phân hoá đa dạng của cảnh quan tỉnh Đắk Lắk

Đắk Lắk có đặc điểm tự nhiên và tài nguyên phong phú, tạo nên sự đa dạng cảnh quan. Hệ thống phân loại cảnh quan tỉnh Đắk Lắk được xây dựng dựa trên các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội. "Tính đa dạng của cảnh quan Đắk Lắk không chỉ thể hiện qua cấu trúc mà còn qua chức năng của các vùng cảnh quan". Việc phân vùng cảnh quan giúp xác định các khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế, từ đó đề xuất các giải pháp tổ chức lãnh thổ sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên.

IV. Định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất tỉnh Đắk Lắk

Đánh giá cảnh quan tỉnh Đắk Lắk phục vụ mục đích phát triển nông - lâm nghiệp và du lịch. Nguyên tắc đánh giá dựa trên các tiêu chí cụ thể, nhằm xác định mức độ thích nghi của các đơn vị cảnh quan với các ngành sản xuất. "Cảnh quan đa chức năng sẽ là cơ sở cho việc tổ chức lãnh thổ sản xuất đến năm 2020". Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một kế hoạch phát triển bền vững, kết hợp giữa khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án không chỉ giúp làm sáng tỏ tiềm năng và quy luật phân hoá lãnh thổ mà còn góp phần hoàn thiện phương pháp nghiên cứu cảnh quan. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu là định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bố trí không gian sản xuất các ngành trên các đơn vị cảnh quan. "Luận án cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy". Điều này cho thấy giá trị lâu dài của nghiên cứu trong việc phát triển kinh tế - xã hội của Đắk Lắk.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận nghiên cứu cảnh quan và tổ chức lãnh thổ sản xuất - Chương 2: Đặc điểm phân hoá đa dạng của cảnh quan tỉnh Đắk Lắk - Chương 3: Định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở phân tích, đánh giá cảnh quan 5 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN VÀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Công trình nghiên cứu lí luận cảnh quan 1.

Nghiên cứu lí thuyết cảnh quan học a) Về đối tượng nghiên cứu - các đơn vị lãnh thổ Đối với lĩnh vực nghiên cứu về lí luận CQ và đặt nền móng cho sự hình thành của CQH thì các nhà Địa lí Liên bang Nga và Đông Âu là những người đi tiên phong với nhiều công trình tiêu biểu. Khởi đầu của Học thuyết về CQ tương ứng với giai đoạn Địa lí học phát triển và phân tách thành các ngành ĐLTN - Địa lí bộ phận (Khí hậu học, Địa mạo học, Địa lí thổ nhưỡng, Địa lí sinh vật,…). Trong đó Địa lí sinh vật và Địa lí thổ nhưỡng được xem là có ý nghĩa đặc biệt lớn lao với vai trò làm tiền đề cho CQH sau này: Do đặc thù của đối tượng nghiên cứu, các nhà Địa lí sinh vật và các nhà Địa lí thổ nhưỡng là những người đầu tiên nhận biết được và quan tâm nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa thế giới hữu sinh và giới vô sinh, để rồi tiếp cận với quan điểm địa lí tổng hợp sớm hơn so với nhiều nhà khoa học khác [21]. Dựa trên quan điểm địa lí tổng hợp, các nhà khoa học đã xem xét các ĐV lãnh thổ trên bề mặt Trái Đất là các tổng hợp thể tự nhiên - được tạo nên từ nhiều yếu tố tự nhiên khác nhau như: địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật,… Các tổng hợp thể tự nhiên này qua các thời kì và dưới góc nhìn của các nhà khoa học khác nhau nên được gọi tên bằng nhiều thuật ngữ không giống nhau như: địa tổng thể (V.

Dokutsaev 1892); thể tổng hợp địa lí (A. Kraxnov 1895); địa phương - châu tự nhiên (G. Vưsotxki 1904); cảnh quan (L.G Ramenxki 1938), lớp vỏ địa lí (A.A Grigoryev 1940), tổng thể cộng sinh (F. Milkov 1967), địa hệ (D.

Ở Việt Nam, các nhà Địa lí học có kế thừa các công trình nghiên cứu lí luận của LB Nga và Đông Âu, đồng thời vận dụng vào thực tiễn nước ta như: Vũ Tự Lập, Nguyễn Đức Chính (1963), Phạm Hoàng Hải (1991, 1997, 2012), Nguyễn Cao Huần (1992, 2007), Lê Văn Thăng (1995), Hà Văn Hành (2002). Mặc dù khác nhau về mặt hình thức nhưng các thuật ngữ này đều giống nhau về mặt bản chất - cùng chỉ về các tổng hợp thể tự nhiên được cấu thành từ nhiều hợp phần và bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có sự phân hoá trong không gian lãnh thổ và theo thời gian. Đối với trường phái CQH phương Tây, đối tượng nghiên cứu của họ cũng có mang dáng dấp các tổng hợp thể tự nhiên nhưng có nhiều khác biệt về nghĩa, cách tiếp cận và nội dung biểu đạt như: tiểu khu phức hợp tự nhiên (R. Burn 1931 - người Anh); cảnh quan (I.

Passarge 1913 - người Đức); phong cảnh (G. 6 Bên cạnh quan điểm địa lí tổng hợp, các ĐV lãnh thổ dưới góc nhìn của các nhà ST và nhà thổ nhưỡng cũng đã được nghiên cứu từ lâu với nhiều công trình khác nhau. Các nhà ST gọi các ĐV lãnh thổ là các hệ sinh thái. Một HST bất kì được tạo nên cũng từ nhiều yếu tố, giữa các yếu tố cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng STH khác với CQH ở chỗ nhấn mạnh hơn đến mối quan hệ giữa sinh vật với MT (E.

Odum 1983; Dương Hữu Thời 1962,…). Còn trong khoa học nông nghiệp thì các ĐV đất đai là đối tượng nghiên cứu chính (FAO 1976, Trần An Phong 1993). Như vậy có thể thấy cách gọi tên khác nhau là CQ hay HST, ĐV đất đai,… đều được dùng để chỉ đến các ĐV lãnh thổ có tính hệ thống trong tự nhiên, sự khác biệt đến từ quan điểm, góc nhìn và cách tiếp cận trong nghiên cứu. Tuy nhiên nếu cần đến tính hệ thống, tính tổng hợp toàn diện, trình độ thứ bậc khi phân chia và khả năng ứng dụng cho quy hoạch - TCLT thì các ĐVCQ có nhiều ưu điểm hơn.

b) Về phương pháp nghiên cứu cảnh quan Qua hơn 1 thế kỉ hình thành và phát triển, CQH cũng đã xây dựng được một hệ thống các PP nghiên cứu CQ tương đối đầy đủ, hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau. Có thể gộp các PP ấy vào 02 nhóm: PP nghiên cứu trong phòng và PP nghiên cứu ngoài thực địa, tương ứng với 02 luận điểm nghiên cứu CQ theo 02 hướng từ trên xuống và từ dưới lên [15]. Phương pháp khảo sát các ĐVCQ trên thực địa đã được các nhà địa lí LB Nga và Đông Âu xây dựng từ nửa sau thế kỉ XX (A. Paskang, 1969,…), sau đó có thể tham khảo thêm PP lập địa sử dụng ở nước Cộng hòa Dân chủ Đức (W.

Sehwanecke, 1971) và PPcấu trúc thổ bì (Fridland, 1972). Theo đó, 1 chuyến thực địa phải bao gồm 05 giai đoạn chính là: 1) Giai đoạn chuẩn bị; 2) Sơ thám; 3) Khảo sát theo lộ trình; 4) Nghiên cứu tại các điểm chìa khoá; 5) Giai đoạn chỉnh lí trong phòng và tổng kết. Song song với việc thu thập tư liệu ngoài thực địa, các nhà CQ có thể thu thập tư liệu trong phòng với lợi thế nguồn tài liệu sẵn có từ các công trình đi trước. Tài liệu có giá trị cần kể đến đầu tiên chính là các bản đồ, các ảnh máy bay, ảnh vệ tinh, tài liệu thống kê,… rồi từ đó, nhà nghiên cứu sẽ thực hiện mô hình hoá bằng cách xây dựng các bản đồ, lát cắt, sơ đồ, biểu đồ,… Việc thành lập các bản đồ để nghiên cứu CQ đã được bắt đầu từ sớm (trước 1920, I.

Larin nghiên cứu vùng Caspi hay R. Abolin thành lập bản đồ CQ phần phía nam Kazakstan) với mục đích ban đầu là phát hiện ra mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố CQ. Sau đó, các bản đồ CQ được thành lập với những cơ sở lí luận chặt chẽ và khoa học hơn (Ixatsenko 1961, 1974) và ngày càng nhanh chóng - chính xác hơn với sự trợ giúp đắc lực và hiệu quả của máy vi tính và công nghệ thông tin như: Hệ thống thông tin địa lí (GIS), Viễn thám (K. Andray 2008; Phạm Hoàng Hải 1990; Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Cẩm Vân 1992, Nguyễn Ngọc Khánh 2012,…).

Cảnh quan học là ngành khoa học thuộc ĐLTN hiện đại, là một trong những ngành khoa học cơ bản của nhóm ngành khoa học về lớp vỏ CQ Trái Đất, cho nên khoa học về CQ tất yếu có quan hệ chặt chẽ với các ngành khoa học về Trái Đất. Thêm nữa, do nhu cầu sử dụng, cải tạo, kiến thiết CQ theo mục tiêu phát triển bền vững, các nhà CQ bắt buộc phải tiếp cận về lí luận và PP của toán học, kinh tế học, khoa học về MT, PP địa hoá, địa vật lí, PP ST, hệ thống thông tin địa lí (GIS),… dẫn đến sự xuất hiện của các hướng nghiên cứu mới như: Địa hoá học cảnh quan (B.I Peremal 1974; Nguyễn Văn Vinh 1983; Nguyễn Việt và Vũ Ngọc Quang 2010); Địa vật lí cảnh quan (I.I Rudnev,… 1978); Sinh thái cảnh quan (Pháp, Slovakia 1967 - 1973; Gunter Haase và Raft Schmidt 1973; Hiệp hội CQST thế giới - IALE 2006; Nguyễn Văn Vinh 1992, 1994; Phạm Quang Anh 1996; Nguyễn Cao Huần 2005; Nguyễn An Thịnh 2007, Lại Vĩnh Cẩm 2008; Phạm Hoàng Hải 2010, …). Bên cạnh đó, nhằm nâng cao tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, các nhà CQ đang ngày càng chú ý sử dụng các PP thống kê - toán học, thiết lập mô hình toán, cho phép dự báo và mở rộng kết quả nghiên cứu ra nhiều nơi chưa khảo sát, phát hiện ra mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố, thành phần. Các mô hình toán còn cho phép sử dụng máy tính điện tử để xử lí thông tin và thực hiện một khối lượng công việc rất lớn mà các PP khác khó tiến hành được (ví dụ: hệ số tương quan thứ hạng của Spearman, Kendall; chỉ số liên hợp đa phương của K.

Tsuprov để xác định mối liên hệ theo chiều thẳng đứng; chỉ số đặc trưng entropi của I. Ximonov để đánh giá độ đồng nhất của cấu trúc ngang; chỉ số thuần nhất của A. Nicolaev; hay công thức tính độ lục địa; công thức tính chỉ số khô hạn A. Budưko; công thức tính hệ số thuỷ nhiệt của G.

Nghiên cứu về phân vùng cảnh quan Phân vùng cảnh quan là một nhiệm vụ rất quan trọng của việc nghiên cứu ĐLTN, có thể xem là khâu kết thúc của việc nghiên cứu lí luận và khởi đầu của giai đoạn nghiên cứu ứng dụng thực tiễn, là cầu nối giữa khoa học CQ và công tác đánh giá – quy hoạch lãnh thổ. Đa số các nhà địa lí LB Nga và Đông Âu thống nhất rằng trong PVCQ cần phải vạch ra và nghiên cứu vô số những địa tổng thể, chúng tồn tại một cách khách quan trong thiên nhiên và tạo nên MT địa lí hoàn chỉnh (N. Prokaev và một số các nhà địa lí khác, khi tiến hành PV cần dựa trên những nguyên tắc cơ bản như: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc phát sinh, nguyên tắc tổng hợp, nguyên tắc đồng nhất tương đối và nguyên tắc cùng chung lãnh thổ. Tuy vậy, trên thực tế việc PV và xây dựng các hệ thống phân vị chưa đạt đến sự thống nhất 8 giữa các nhà CQ, dẫn tới sự tồn tại của nhiều hệ thống phân vị với số lượng cấp bậc và chỉ tiêu phân chia khác nhau.

Có thể phân tích thấy những vấn đề tồn tại trong PVCQ của các tác giả từ trước tới nay như: - Đa số các nhà địa lí đều thừa nhận PV có 2 cách: PV theo kiểu (còn gọi là phân loại) và PV cá thể (còn gọi là phân vùng). Về cơ bản đều có nhiệm vụ phân chia ra các ĐV lãnh thổ nhỏ hơn nằm trong 1 địa tổng thể bất kì, và mỗi ĐV lãnh thổ được phân chia phải có những nét đặc trưng riêng phân biệt với các ĐV lân cận, và được nhận biết theo những dấu hiệu nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Luận án về đa dạng cảnh quan và tổ chức lãnh thổ sản xuất tỉnh Đắk Lắk" được thực hiện tại Trường Đại Học Tây Nguyên, tập trung vào việc nghiên cứu sự đa dạng cảnh quan và cách tổ chức lãnh thổ sản xuất tại tỉnh Đắk Lắk. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ mà còn đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và phát triển bền vững trong khu vực. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức tổ chức sản xuất và quản lý cảnh quan, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các địa phương khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến đô thị hóa và quản lý đất đai, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên", nơi phân tích tác động của đô thị hóa đến việc sử dụng đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, bài viết "Tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2010" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sự thay đổi trong quản lý đất đai do đô thị hóa. Cuối cùng, bài viết "Tác động của sự phát triển đô thị đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân tại phường Tân Thịnh, Thái Nguyên" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa phát triển đô thị và đời sống cộng đồng. Những tài liệu này sẽ là nguồn tham khảo quý giá cho những ai quan tâm đến lĩnh vực địa lý và quản lý lãnh thổ.