ĐẶT VẤN ĐỀ Lúa (Oryza sativa L.)là loại ngũ cốc làm lương thực quan trọng đối với 3,5 tỷ người, chiếm 50% dân số thế giới, đặc biệt là ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Ở Châu Á và đặc biệt ở Việt Nam cây lúa được coi là cây lương thực quan trọng bậc nhất (Phạm Văn Cường và cs. Ở Việt Nam cây lúa được coi là cây trồng bản địa, nó không phải là loài cây từ nơi khác đưa vào (Bùi Huy áp, 1987). Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa là cơ sở kinh tế của đất nước.
Do vậy sản xuất lúa gạo vẫn được coi là lĩnh vực quan trọng nhất trong nông nghiệp và phát triển nông thôn ở nước ta. Từ một nước thiếu lương thực thường xuyên đến nay sản lượng lúa gạo của chúng ta không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực trong nước mà còn dư để xuất khẩu. Hiện nay, do sự bùng nổ dân số thế giới, sự phát triển không ngừng của công nghiệp hóa làm cho diện tích đất nông nghiệp dần thu hẹp, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cần có những nghiên cứu cụ thể để phát triển cây lúa. Việc chọn tạo ra các giống lúa ngắn ngày có năng suất cao, có khả năng sử dụng phân bón một cách tối đa là thực sự cần thiết.
Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất người nông dân vẫn chưa phát huy được thế mạnh đó. Các giống lúa thuần khi đưa vào sản xuất đại trà đều cho kết quả rất tốt tuy nhiên chỉ sau một thời gian thì độ thuần giảm dần dẫn tới diện tích canh tác ngày càng giảm. Nguyên nhân chủ yếu là do khâu kỹ thuật chăm sóc còn hạn chế:Việc sử dụng phân bón và mật độ cấy lúa còn chưa thống nhất, chưa khoa học. Người dân còn cấy dày, cấy nhiều dảnh, bón nhiều đạm, bón lai dai, bón ít kali dẫn tới lúa bị lốp đổ, bị sâu bệnh đặc biệt là ở các giống lúa thơm chất lượng.
Các nguyên nhân này dẫn tới cây lúa khôngthể phát huy hết tiềm năng của nó và có thể bị đánh giá là giống chất lượng kém. Lúa thơm, chất lượng cao là một hướng ưu tiên nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa gạo của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên bộ giống lúa thơm, chất lượng hiện đang được sản xuất ở các tỉnh phía Bắc còn đơn điệu, các giống lúa thơm chất lượng cao vẫn phổ biến là các giống nhập nội từ Trung Quốc như BT7, HT1 và các giống lúa chọn tạo trong nước như T10, C5, TL6,. là những giống lúa thơm ngắn ngày, chất lượng nhưng chống chịu 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kém với một số sâu bệnh hại chính như rầy nâu bệnh đạo ôn, đặc biệt là bệnh bạc lá.
ây là nguyên nhân hạn chế đến mục tiêu tăng sản lượng lúa chất lượng tại các tỉnh phía Bắc trong những năm qua (Dương Xuân Tú và cs. Những năm gần đây, việc chọn tạo giống lúa thơm, chất lượng cao, năng suất khá, kháng bệnh bạc lá là cần thiết cho sản xuất lúa chất lượng ở các tỉnh phía Bắc hiện nay. Giống lúa HDT10 do viện cây lương thực và cây thực phẩm chọn tạo là giống lúa thơm có độ thuần cao, kháng rầy nâu, bạc lá thích ứng tốt với các tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên để phát huy hết tiềm năng của giống, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật thâm canh.
Ngoài các biện pháp bố trí thời vụ, kỹ thuật làm đất, tuổi mạ, phòng trừ sâu bệnh,. thì việc xác định mật độ cấy và liều lượng phân bón cũng là biện pháp kỹ thuật cực kỳ quan trọng. Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành đề tài:“Đánh giá ảnh hưởng của mật độ cấy, phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa HDT10 tại Tích Giang – Phúc Thọ - Hà Nội”. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI * Mục tiêu - Xác định được chế độ bón phân và mật độ cấy phù hợp cho giống lúa HDT10 để góp phần xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất tại Tích Giang – Phúc Thọ - Hà Nội.
* Yêu cầu - Nắm được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của giống lúa HDT10 - ánh giá được ảnh hưởng của các chế độ bón phân và mật độ cấy tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa thơm HDT10 trong vụ xuân năm 2017. - ánh giá được ảnh hưởng của các chế độ bón phân và mật độ cấy tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa thơm HDT10 trong vụ mùa năm 2017. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài sẽ cung cấp dữ liệu về các đặc điểm sinh trưởng và phát triển của giống lúa thơm HDT10 trong hai vụ là vụ xuân và vụ mùa năm 2017.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kết quả của đề tài cũng cung cấp dữ liệu về ảnh hưởng của mật độ cấy và phân bón tới sự sinh trưởng và phát triển của giống lúa thơm HDT10 trong hai vụ là vụ xuân và vụ mùa năm 2017 tại Tích Giang – Phúc Thọ - Hà Nội làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm cải tiến biện pháp kỹ thuật canh tác giống lúa này. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả đề tài sẽ đưa ra mật độ cấy và chế độ bón phân thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển, năng suất cao nhất của giống lúa thơm HDT10 để bổ sung cơ cấu cây trồng tại Tích Giang – Phúc Thọ - Hà Nội nói riêng và các vùng có khí hậu địa chất tương đồng đưa vào sản xuất. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới Lúa là loại ngũ cốc làm lương thực quan trọng đối với 3,5 tỷ người, chiếm 50% dân số thế giới, đặc biệt là ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Lúa có sản lượng đứng hàng thứ ba trên thế giới sau ngô và lúa mì. Góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho con người và ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói trên thế giới.
Theo thống kê của F O, hiện nay trên thế giới có 115 nước trồng lúa ở các châu lục, với tổng diện tích trồng lúa là 162,72 triệu ha với tổng sản lượng lúa là 741,48 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới gần 90% diện tích gieo trồng và sản lượng vì vậy cây lúa gạo không thể thiếu với người châu Á. Các nước sản xuất gạo chính ở châu Á như là: Thái Lan, Việt Nam, Ấn ộ, Trung Quốc. Trong đó Thái Lan và Việt Nam là hai nước có sản lượng xuất khẩu lúa gạo cao nhất, chiếm gần khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Một số nước như Trung Quốc, Ấn ộ, Indonesia, Philippin, Bangladesh, Srilanka… nhu cầu tiêu dùng gạo sẽ tăng lên nhiều hơn so với khả năng sản xuất lúa gạo ở các nước này.
Chính vì thế, sản xuất lúa gạo phải được tăng lên để đáp ứng nhu cầu lương thực cho các nước. ặc biệt phải chú trọng đến đảm bảo an ninh lương thực và nhu cầu tiêu dùng của người dân, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Diện tích, năng suất, sản lƣợng lúa các châu lục và trên thế giới năm 2014 Diện tích Sản lƣợng Năng suất Các nƣớc (triệu ha) (triệu tấn) (tấn/ha) Thế giới 162,72 741,48 4,55 Châu Á 143,48 667,02 4,65 Châu Phi 11,88 30,78 2,59 Nam Mỹ 4,75 25,39 5,34 Bắc Mỹ 1,18 10,07 8,49 Châu Âu 0,65 4,73 7,34 Châu ại Dương 0,08 0,83 10,2 Nguồn F OST T (2015) 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua bảng 2.1 cho thấy năm 2014 châu Á là nơi có diện tích lớn nhất 143,48 triệu ha, sản lượng lúa cao nhất đạt 667,02 triệu tấn, tiếp sau đó là châu Phi, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Châu Âu và châu ại Dương có diện tích thấp nhất 0,08 triệu ha với sản lượng 0,83 triệu tấn. Diện tích trồng lúa của thế giới là 162,72 triệu ha với tổng sản lượng đạt 741,48 triệu tấn.
Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa gạo trên thế giới qua các năm Diện tích Sản lƣợng Năng suất Năm (triệu ha) (triệu tấn) (tấn/ha) 2008 160,06 687,46 4,29 2009 157,97 686,24 4,34 2010 161,56 701,23 4,34 2011 162,71 721,6 4,43 2012 162,26 733,01 4,52 2013 164,26 739,12 4,5 2014 162,72 741,48 4,56 2015 160,76 739,50 4,60 2016 159,81 741,52 4,64 Nguồn FAOSTAT (2017) Qua bảng số liệu trên ta thấy, từ năm 2008 đến năm 2014 diện tích, năng suất và sản lượng lúa thế giới tăng chậm, năng suất lúa hầu như ít biến đổi chỉ dao động từ 4,29 tấn/ha năm đến 4,56 tấn/ha. Diện tích trồng lúa qua các năm tăng không nhiều nhưng sản lượng lúa thế giới đều tăng dần qua các năm, từ 687,46 triệu tấn năm 2008 lên đến 741,48 triệu tấn năm 2014. Năm 2016 diện tích lúa gạo giảm còn 159,81 triệu ha nhưng năng suất và sản lượng lúa tăng hơn so với các năm. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nước còn trong tình trạng thiếu lương thực, đặc biệt là các nước Châu Phi.
Trên thế giới có khoảng 800 triệu người thường xuyên trong tình trạng thiếu lương thực. Nhu cầu về gạo của con người trên thế giới luôn tăng, khoảng 50 triệu người trên năm. Châu Á nơi sản xuất gạo chính và có tới hơn 90% dân số dùng lúa gạo, tốc độ tăng trưởng khoảng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2%/năm, nhưng để tăng diện tích là rất hạn chế vì vậy con đường duy nhất là tăng năng suất (Khush et al. Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo ở Việt Nam Việt Nam nằm ở vùng ông Nam Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, có lượng bức xạ lớn nên rất thích hợp cới canh tác lúa.
ịa hình phức tạp nhiều sông núi, do đó hình thành nhiều vùng canh tác lúa khác nhau. Căn cứ vào điệu kiện tự nhiên, tập quán canh tác, sự hình thành mùa vụ và phương pháp gieo trồng, nghề trồng lúa nước được hình thành và chia ra là 3 vùng chính: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển miền Trung và đồng bằng Nam Bộ. Với điều kiện sống thích nghi với các vùng châu thổ ngập nước vì vậy lúa gạo được gieo trong nhiều ở các lưu vực sông trên khắp cả nước với diện tích gieo trồng 7,82triệu ha năm 2014.