CHƯƠNG I. TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM LƯU VỰC SÔNG THU BỒN 1. ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG THU BỒN 1. Ví trí địa lý Sông Thu Bồn là một sông lớn thuộc tỉnh Quảng Nam và cũng là một trong những con sông lớn trong các tỉnh duyên hải Trung Bộ, trải ra trong phạm vi từ 14048’ – 15050’ vĩ độ Bắc và 107057’ – 108025’ kinh độ Đông, hợp thành dòng chính Thu Bồn và các sông nhánh Vu Gia, Ly Ly, Túy Loan.
Bản đồ lưu vực sông Thu Bồn Lưu vực sông Thu Bồn là lưu vực sông lớn của tỉnh Quảng Nam và cũng là một trong những hệ thống sông chính của miền Trung. Toàn bộ lưu vực nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn, có diện tích lưu vực là 4256 km2 phía Tây giáp với dãy 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Sơn, phía Tây Nam giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi (hình 1. Địa hình và địa mạo Địa hình trong lưu vực phần lớn là đồi núi, riêng phần hạ lưu sông giáp biển là đồng bằng. Phần phía Bắc là những dãy núi cao chạy song song với dãy Bạch Mã, kéo dài từ Đông sang Tây với một số đỉnh cao trên 100m (Núi Mang 1708m, Bà Nà 1483m); phía Tây là dãy Trường Sơn Nam với một số đỉnh cao trên 200m (A Tuất 2500m, Lum Heo 2045m, Tion 2032m.); phía Nam là khối núi Kon Tum thuộc dãy Trường sơn với đỉnh Ngọc Linh cao 2598m, chạy ra tới biển.
Như vậy, lưu vực hệ thống sông Thu Bồn được bao bọc bởi các dãy núi cao ở ba phía, Bắc, Tây và Nam. Chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống đồng bằng là vùng trung du với những đồi núi thấp có độ cao (100 - 800m). Vùng đồng bằng hẹp có địa hình thấp dưới 30m, phân bố ở một số huyện thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam (Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Thăng Bình, Hội An) và thành phố Đà Nẵng (huyện Hòa Vàng, các quận Ngũ Hành Sơn và Hải Châu). Tiếp giáp với biển là những dải cát có những cồn cát cao hơn 10m.
Thổ nhưỡng và thực vật Đất được phát tiển trên các loại đá mẹ, gồm các loại chính: nhóm đất mùn trên núi cao; nhóm đất feralit phát triển đá mác ma và các loại đá khác, phân bố rộng rãi ở vùng đồi núi thấp; đất phù sa; đất phèn đất mặn; đất cát biển và đất xói mòn từ sỏi đá. Thực vật trong lưu vực khá phong phú và đa dạng, gồm kiểu rừng kín thường xanh ẩm á nhiệt đới phân bố ở độ cao trên 1000m; kiểu rừng kín lá rụng hơi ẩm nhiệt đới; kiểu rừng cây thưa, lá rộng hơi khô nhiệt đới và kiểu rừng cây là kim hơi khô nhiệt đới. Ngoài ra, còn có các trảng cỏ, cây bụi. Rừng bị tàn phá, khai thác thiếu quy hoạch.
Tính đến năm 2006, diện tích rừng trong tỉnh Quảng Nam khoảng 457,7.103 ha, trong đó rừng tự nhiên 396,3.103ha, rừng trồng 61,4.103 ha, tỷ lệ che rừng phủ khoảng 43,9%. Đặc điểm khí tượng - thủy văn Mạng lưới quan trắc 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong lưu vực nghiên cứu có 2 trạm đo các yếu tố khí tượng: một trạm đo đại diện cho vùng đồng bằng là trạm Đà Nẵng, một trạm đại diện cho vùng miền núi là trạm Trà My và 12 trạm đo mưa. Trên hệ thống sông Thu Bồn có 5 trạm đo thuỷ văn, trong đó có 1 trạm đo dòng chảy và mực nước là trạm thủy văn Nông Sơn, 1 trạm đo mực nước hạ lưu vùng ảnh hưởng triều là trạm thủy văn Câu Lâu. Danh sách trạm khí tượng - thủy văn trên lưu vực sông Thu Bồn Yếu tố quan trắc Tên trạm Sông Mưa H Q Các yếu tố khác Nông Sơn Thu Bồn X X X Cầu Lâu Thu Bồn X X Giao Thủy Thu Bồn X X X Vĩnh Diện Thu Bồn X X Hội An Thu Bồn X X Sơn Tân Thu Bồn X X Hiệp Đức Thu Bồn X Quế Sơn Thu Bồn X Khâm Đức Thu Bồn X Trà Mi Thu Bồn X An Hòa Thu Bồn X Đà Nẵng Thu Bồn X Khí tượng Do nằm ở phía Nam dãy Bạch Mã và phía Đông dãy Trường Sơn Nam, nên khí hậu trong lưu vực hệ thống sông Thu Bồn cũng có đặc điểm chung của khí hậu vùng Nam Trung Bộ với mùa Đông không lạnh, nắng nhiều, chịu ảnh hưởng bởi gió Tây khô nóng, mùa mưa vào cuối Hè, đầu mùa Đông.
Lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 140-150kcal/cm2. Cân bằng bức xạ trung bình năm khoảng 75-100 kcal/cm2. Số giờ nắng trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ 1800 giờ ở vùng núi cao đến hơn 2000 giờ ở vùng đồng bằng ven biển. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 21-260C, giảm từ đồng bằng ven biển lên miền núi theo sự tăng cao củah hình.
Nhiệt độ tối cao tuyệt đối có thể trên 400C vào những ngày có gió Tây khô nóng. Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể dưới 150C ở vùng đồng bằng và dưới 100C ở vùng núi. Độ ẩm không khí có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ không khí và lượng mưa. Vào các tháng mùa mưa độ ẩm không khí vùng đồng bằng ven biển có thế đạt 85- 88%, vùng núi có thể đạt 90- 95%.
Các tháng mùa khô vùng đồng bằng ven biển chỉ còn dưới 80%, vùng núi còn 80-85%. Độ ẩm không khí vào những ngày thấp nhất có thể xuống mức 20-30%. Lượng mây tổng quan trung bình năm biến đổi trong phạm vi (5-7,7)/10 bầu trời, có xu thế tăng dần từ đồng bằng lên miền núi Tốc độ gió bình quân hàng năm vùng núi đạt 0,7-1,3 m/s, trong khí đo vùng đồng bằng ven biển đạt 1,3 -1,6 m/s. Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được ở Trà My mùa hạ đạt 34 m/s, trong mùa mưa đạt 25m/s.
Vùng đồng bằng ven biển gió thường mạnh hơn và đạt 40 m/s như ở Đà Nẵng khi có bão Lượng bốc hơi phụ thuộc vào yếu tố khí hậu: nhiệt độ không khí, nắng, gió, độ ẩm.Lượng bốc hơi trung bình năm trên lưu vực khoảng 680-1040 mm, ở vùng núi lượng bốc hơi khoảng 680-800 mm, vùng đồng bằng ven biển lượng bốc hơi khoảng 880-1050 mm. Do nằm trong địa hình cao nhất của dãy Trường Sơn nên lưu vực sông Thu Bồn rất thuận lợi đón gió là nguyên nhân gây mưa khá đa dạng. Hoàn lưu Tây Nam cùng với sự hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới, hoàn lưu Đông Bắc cùng với các nhiễu động thời tiết đem lượng mưa lớn cho toàn lưu vực. Trên lưu vực có tâm mưa lớn: Tâm mưa Bạch Mã với lượng mưa năm trên 3000 mm.
Tuy nhiên, mưa phân bố không đều cả về không gian và thời gian. Xét cả về lượng lẫn độ dài mùa mưa trên lưu vực thì có xu hướng giảm dần từ phía Tây sang phía Đông, từ miền núi xuống đồng bằng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thủy văn Với điều kiện địa hình dốc, mạng lưới sông suối phát triển tỏa tia, mức độ tập trung mưa lớn cả về lượng lẫn về cường độ trên phạm vi rộng nên lũ trên các sông suối của lưu vực sông Thu Bồn mang đậm tính chất lũ núi với các đặc trưng: cường suất lũ lớn, thời gian lũ ngắn, đỉnh lũ nhọn, biên độ lũ lớn. Hàng năm trên sông Thu Bồn xuất hiện 4 – 5 trận lũ, năm nhiều nhất có 7- 8 trận lũ, lũ lớn nhất trong năm thường xuất hiện trong tháng X và XI.
Hình thế thời tiết chủ yếu mưa sinh lũ trên lưu vực là bão (chiếm khoảng 55% tần xuất), không khí lạnh (chiếm khoảng 23%) đây cũng chính là nguyên nhân gây lũ đặc biệt lớn. Mạng lưới sông ngòi trên lưu vực [2] Với hình dạng lưu vực hình bầu nên mạng lưới sông trên lưu vực Thu Bồn phát triển tới các phụ lưu cấp IV và trong tổng số 78 phụ lưu có chiều dài sông chính lớn hơn 10km được phân chia theo các cấp : 19 phụ lưu cấp I, 36 phụ lưu cấp II, 22 phụ lưu cấp III và 2 phụ lưu cấp IV. Sự sắp xếp của các dãy núi đã tạo ra hướng dốc chính của địa hình lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn là hướng Tây Nam - Đông Bắc, và dòng chính sông Thu Bồn có hướng chảy chính Tây Nam - Đông Bắc ở phần thượng, trung du và chuyển hướng chảy Tây - Đông ở vùng hạ du lưu vực. Vì vậy hệ số uốn khúc của các sông lớn trên lưu vực sấp xỉ 2 như dòng chính 1,86, sông Bung 2,02, sông Tĩnh Yên 2,67.
Địa hình núi đồi chiếm tỷ trọng diện tích khá lớn (trên 60%) nên độ cao bình quân lưu vực 552m, độ dốc bình quân lưu vực 25% thuộc vào loại lớn nhất so với các lưu vực sông dải duyên hải Việt Nam. Mạng lưới sông suối trong lưu vực sông Thu Bồn kém phát triển với mật độ lưới sông 0,47 km/km2. Phần thượng du lưu vực độ dốc địa hình lớn trên 30%, cấu tạo địa chất vùng núi là các đá Granit sườn dốc, đỉnh núi nhọn với lớp vỏ phong hoá chủ yếu là sa thạch, diệp thạch xen lẫn cuội kết nên mạng lưới sông suối trong vùng chỉ phát triển ở những vùng thấp còn ở phần sườn núi hầu như không xuất hiện dòng chảy thường xuyên, mật độ lưới sông 0,38 km/km2. Phần hạ du sông chảy trong vùng đồng bằng ven biển thấp, độ dốc bề mặt giảm và lớp vỏ thổ nhưỡng trong vùng này chủ yếu là đất cát, đất đỏ nên mạng lưới sông suối ở đây cũng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không phát triển mạnh, mật độ sông suối 0,57 km/km2.
Tình hình lũ lụt trên lưu vực sông Thu Bồn Tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng và vùng phụ cận có mùa lũ hàng năm từ tháng X đến tháng XII. Tuy nhiên mùa lũ ở đây cũng không ổn định, nhiều năm lũ xảy ra từ tháng IX và cũng nhiều năm sang tháng I của năm sau vẫn có lũ, điều này chứng tỏ lũ lụt ở Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng và vùng phụ cận có sự biến động khá mạnh mẽ. Lũ xảy ra vào tháng IX đến nửa đầu tháng X gọi là lũ sớm. Lũ xảy ra vào tháng XII hoặc sang tháng I năm sau gọi là lũ muộn.
Lũ lớn nhất trong năm thường xảy ra vào nửa cuối tháng X và XI. Lũ sớm Lũ xuất hiện vào tháng IX đến nửa đầu tháng X hàng năm được coi là lũ sớm. Theo thống kê lũ lớn hàng năm trên các sông vùng nghiên cứu đạt 25 32%.