Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Lam là một trong 9 hệ thống sông lớn nhất Việt Nam với diện tích lưu vực dòng chính đạt 17.970 km2 và hệ thống 44 sông nhánh cấp I. Khu vực miền Trung những năm qua liên tiếp gánh chịu các đợt thiên tai nghiêm trọng, điển hình như đợt mưa bão năm 2007 với 5 trận lũ xuất hiện liên tiếp trong vòng 1 tháng, gây thiệt hại nặng nề tại các huyện Quế Phong, Quỳ Châu và Nghĩa Đàn. Dòng chảy lũ lịch sử từng ghi nhận lưu lượng đỉnh tại trạm Dừa lên tới 10.200 m3/s vào tháng 9/1978 và lưu lượng hoàn nguyên tại Yên Thượng đạt 13.180 m3/s. Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự xuất hiện của hàng loạt công trình thủy lợi, thủy điện quy mô lớn như Bản Vẽ với dung tích 1.834,6 triệu m3, Bản Mồng với dung tích 235,5 triệu m3 và Thác Muối với dung tích 588,1 triệu m3 đã làm thay đổi căn bản chế độ thủy văn tự nhiên trên toàn lưu vực.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đánh giá định lượng mức độ tác động của hệ thống công trình hồ chứa đến các đặc trưng dòng chảy lũ, bao gồm đỉnh lũ, thời gian truyền lũ, tổng lượng lũ và biên độ dao động mực nước. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ lưu vực sông Lam từ vùng biên giới Việt - Lào qua Nghệ An, Hà Tĩnh ra đến Cửa Hội, với chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn được phân tích trong giai đoạn từ năm 1962 đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao hiệu quả kiểm soát lũ hạ du, giúp hạ thấp mực nước lũ thiết kế dưới mức báo động III (7,90m tại Nam Đàn) từ 0,45m đến 0,85m, đồng thời tạo cơ sở khoa học vững chắc để các cơ quan quản lý ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa tối ưu, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản cho hơn 3 triệu người dân vùng hạ lưu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết cân bằng nước tổng thể và chu trình thủy văn lưu vực kết hợp với lý thuyết bể chứa phi tuyến và tuyến tính trong mô hình mưa - dòng chảy. Hai mô hình toán học hiện đại được tích hợp đồng bộ gồm mô hình Mike-NAM (mô hình mưa rào - dòng chảy xác định theo khái niệm) và mô hình HEC-ResSim (mô hình mô phỏng điều hành hệ thống hồ chứa và diễn toán thủy lực).

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Dung tích phòng lũ (Vplũ): Lượng dung tích hồ chứa được thiết kế riêng biệt để giữ lại một phần dòng chảy đỉnh lũ nhằm bảo vệ an toàn cho hạ du.
  2. Cường suất lũ: Tốc độ biến đổi mực nước hoặc lưu lượng theo thời gian, đo bằng m/giờ đối với sông suối nhỏ hoặc m/ngày đối với dòng chính.
  3. Hoàn nguyên dòng chảy: Phương pháp tính toán khôi phục quá trình dòng chảy tự nhiên tại các trạm đo thủy văn trong điều kiện không có sự tham gia điều tiết của hồ chứa.
  4. Diễn toán lũ đoạn sông: Quy luật lan truyền sóng lũ và biến đổi hình dạng đường quá trình lưu lượng khi dòng chảy truyền từ thượng lưu xuống hạ lưu theo phương trình liên tục và phương trình chuyển động dV/dt = Q(t) - qr(t).

Cấu trúc mô hình Mike-NAM vận hành dựa trên 4 khối bể chứa chức năng chính: bể chứa mặt với giới hạn trữ ẩm tối đa Umax (từ 5 đến 35 mm), bể chứa tầng rễ cây với dung tích trữ ẩm Lmax (từ 50 đến 350 mm), cùng hệ số dòng chảy mặt CQOF (từ 0,1 đến 0,99) và hằng số thời gian dòng chảy ngầm CKBF (từ 500 đến 5.000 giờ).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào được thu thập đồng bộ từ 8 trạm khí tượng thủy văn đại biểu gồm Con Cuông, Đô Lương, Vinh, Quỳ Châu, Tây Hiếu, Tương Dương, Hương Khê và Hà Tĩnh. Biên trên của mô hình dòng chảy là số liệu thực đo tại trạm thủy văn Mường Xén (nhận dòng chảy từ Lào đổ về), trong khi biên kiểm định hạ lưu sử dụng số liệu trạm Con Cuông trên dòng chính sông Cả và trạm Nghĩa Khánh trên phụ lưu sông Hiếu. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi số liệu thủy văn nhiều năm từ 1962 đến 2013, kết hợp phân tích chuyên sâu 10 trận lũ điển hình sau khi công trình đi vào vận hành.

Phương pháp chọn mẫu công trình dựa trên hai chỉ tiêu định lượng nghiêm ngặt:

  • Chỉ tiêu K1 = WlũLV1% / WlũCT1% <= 10 (tỷ lệ giữa tổng lượng lũ 1% của toàn lưu vực và lượng lũ 1% đến tuyến công trình).
  • Chỉ tiêu K2 = WlũCT1% / Whi <= 10 (tỷ lệ giữa tổng lượng lũ 1% đến tuyến công trình và dung tích hữu ích của hồ).

Qua sàng lọc kỹ thuật, 3 công trình lớn thỏa mãn đồng thời hai chỉ tiêu được đưa vào tính toán gồm: Thủy điện Bản Vẽ (K1 = 3,87; K2 = 0,64), Thủy điện Thác Muối (K1 = 5,19; K2 = 1,51) và Hồ Bản Mồng (K1 = 3,98; K2 = 7,56). Các công trình như hồ Sông Sào (K1 = 21,65) và hồ Khe Bố (K2 = 41,05) bị loại bỏ vì dung tích hữu ích không đủ lớn để tạo tác động cắt lũ trên diện rộng toàn lưu vực.

Lý do lựa chọn phương pháp mô hình hóa kết hợp Muskingum trong HEC-ResSim xuất phát từ thực tế số lượng trận lũ sau khi hồ Bản Vẽ hoạt động còn hạn chế, phương pháp thống kê cổ điển chưa đủ chuỗi mẫu độc lập. Bộ thông số mô hình được hiệu chỉnh tối ưu với trận lũ tháng 9/2006 và kiểm định độc lập với trận lũ tháng 10/2007 cùng trận lũ tháng 10/2013, đạt hệ số Nash-Sutcliffe trên 0,85, bảo đảm độ tin cậy vượt trội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại những kết quả định lượng chuẩn xác về sự chuyển biến của chế độ thủy văn lưu vực sông Lam:

  1. Năng lực cắt giảm đỉnh lũ đơn lẻ vượt trội của Thủy điện Bản Vẽ: Với dung tích phòng lũ 300 triệu m3 và dung tích hữu ích 1.383 triệu m3, hồ Bản Vẽ giúp cắt giảm lưu lượng đỉnh lũ tại trạm thủy văn Con Cuông từ 18% đến 35% đối với các trận lũ vừa và nhỏ, làm chậm thời gian xuất hiện đỉnh lũ từ 4 đến 8 giờ. Trong trận lũ tháng 9/2011, lưu lượng đỉnh thực đo tại trạm Con Cuông giảm hơn 1.250 m3/s so với kết quả hoàn nguyên tự nhiên.

  2. Hiệu ứng phối hợp cắt lũ của hệ thống liên hồ chứa: Khi vận hành đồng thời 3 hồ chứa trọng điểm (Bản Vẽ, Bản Mồng và Thác Muối với tổng dung tích hữu ích 1.934,5 triệu m3), mực nước lũ tại các trạm kiểm soát hạ du như Đô Lương (báo động III là 18,0m) và Nam Đàn (báo động III là 7,90m) giảm từ 0,45m đến 0,85m. Lưu lượng lũ đỉnh truyền về trạm Yên Thượng giảm tương ứng khoảng 15% đến 22% so với điều kiện tự nhiên chưa có hồ.

  3. Sự phân hóa vai trò dòng chảy khu giữa: Khu vực giữa từ Dừa đến Yên Thượng với diện tích tập trung mưa lớn (lượng mưa 1 ngày lịch sử đạt 782 mm tại Đô Lương và 684 mm tại Dừa) đóng góp từ 30,5% đến 49,9% tổng lượng lũ 7 ngày tại trạm Dừa trong các trận lũ cực đoan như năm 1978. Do đó, nếu xảy ra mưa lớn diện rộng ở khu giữa thì hiệu quả cắt lũ của các hồ thượng nguồn tại hạ lưu bị suy giảm từ 10% đến 15%.

  4. Thay đổi hình thái đường quá trình lũ: Quá trình xả lũ có điều tiết qua công trình thủy điện làm đường quá trình lũ hạ du có xu hướng bẹt ra, thời gian duy trì mực nước cao kéo dài thêm từ 6 đến 12 giờ, tốc độ rút nước chậm hơn so với dòng chảy tự nhiên nhưng loại bỏ được các đợt dâng lũ đột ngột có cường suất lớn trên 1 m/giờ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi thủy văn là do dung tích trữ ẩm của các hồ chứa lớn đã giữ lại lượng nước mặt khổng lồ trong pha lũ lên, làm triệt tiêu năng lượng sóng lũ truyền dọc dòng chính. Khi so sánh với các nghiên cứu thủy văn trên lưu vực sông Đà hay sông Ba, sông Lam có đặc thù phân nhánh phức tạp với sự hội lưu của sông Hiếu và sông Giăng ở trung du. Do đó, quy luật lũ hạ du không chỉ phụ thuộc vào dòng chính sông Cả mà chịu tác động đa chiều từ sự trùng pha lũ giữa các phụ lưu.

Về mặt biểu diễn trực quan, các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa qua đường cong tần suất lưu lượng lũ P% tại Nam Đàn, bảng đối chiếu sai số Nash-Sutcliffe và biểu đồ so sánh đường quá trình lũ thực đo với dòng chảy hoàn nguyên tại trạm Con Cuông. Việc kết hợp dữ liệu bảng và đồ thị thủy văn giúp làm rõ cơ chế vận hành cắt lũ an toàn, tránh tình trạng xả tràn khẩn cấp gây gia tăng ngập lụt hạ du.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa thời gian thực trên lưu vực sông Lam: Cần xây dựng quy chế điều phối tự động giữa các nhà máy thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố và các hồ thủy lợi Bản Mồng, Thác Muối; mục tiêu giảm sai số dự báo lưu lượng về hồ xuống dưới 10% và hạ mực nước đỉnh lũ hạ du tại Nam Đàn thêm ít nhất 0,5m; thời gian hoàn thành trước năm 2027; chủ thể thực hiện là Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

  2. Nâng cấp mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn tự động chuyên dùng: Lắp đặt bổ sung 25 trạm đo mưa tự động và 10 trạm đo mực nước truyền dữ liệu qua vệ tinh tại các vùng trọng điểm mưa lớn như lưu vực sông Giăng, sông Hiếu và khu giữa Dừa - Yên Thượng; mục tiêu nâng cao thời gian cảnh báo lũ sớm lên 12 đến 18 giờ trước khi lũ về; hoàn thiện trong giai đoạn 2026 - 2028; chủ thể thực hiện là Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

  3. Thiết lập dung tích đón lũ chủ động trong mùa mưa chính vụ: Duy trì mực nước hồ Bản Vẽ ở cao trình đón lũ an toàn trước ngày 15/8 hàng năm để sẵn sàng dung tích cắt lũ tối thiểu 300 triệu m3; mục tiêu triệt tiêu hoàn toàn đỉnh lũ tần suất 5% tại hạ du; thực hiện định kỳ hàng năm từ tháng 8 đến tháng 11; chủ thể thực hiện là Công ty Thủy điện Bản Vẽ và Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

  4. Củng cố hệ thống đê bao và công trình tiêu thoát lũ vùng hạ du sông Lam: Nâng cấp hơn 60 km đê xung yếu dọc các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên nhằm đảm bảo an toàn đê điều khi mực nước vượt mức báo động III (9,30m); hoàn thành trước năm 2030; chủ thể thực hiện là Chi cục Thủy lợi và Phòng chống thiên tai địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về phòng chống thiên tai và tài nguyên nước: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai các cấp tại Nghệ An, Hà Tĩnh có thể sử dụng số liệu tính toán thủy văn để lập bản đồ ngập lụt chi tiết, xây dựng phương án sơ tán dân cư kịp thời tại 9 xã xung yếu vùng Nam Đàn khi xuất hiện lũ báo động III.

  2. Đơn vị quản lý và vận hành công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi: Các kỹ sư vận hành tại Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố và Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng Thủy lợi 4 có thể ứng dụng trực tiếp mô hình HEC-ResSim để tính toán kịch bản xả lũ tối ưu, bảo đảm cân bằng giữa nhiệm vụ phát điện và an toàn phòng lũ hạ du.

  3. Kỹ sư tư vấn thiết kế và quy hoạch lưu vực sông: Các viện nghiên cứu, công ty tư vấn xây dựng thủy lợi - thủy điện có thể khai thác bộ thông số mô hình Mike-NAM và phương pháp sàng lọc chỉ tiêu K1, K2 để áp dụng vào các dự án đánh giá tác động môi trường thủy văn trên các lưu vực sông tương đồng tại miền Trung.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thủy văn học: Luận văn cung cấp tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp hoàn nguyên dòng chảy trong điều kiện thiếu chuỗi số liệu thực đo dài hạn, cùng quy trình tích hợp các mô hình toán học tiên tiến trong nghiên cứu tài nguyên nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nghiên cứu lại chọn mô hình Mike-NAM để tính toán hoàn nguyên dòng chảy?

Mô hình Mike-NAM là mô hình thủy văn dạng số khái niệm được thiết kế tối ưu cho các lưu vực vừa và nhỏ có địa hình chia cắt phức tạp. Với nhu cầu dữ liệu đầu vào trung bình, mô hình mô phỏng chính xác sự biến đổi độ ẩm qua 4 tầng bể chứa. Kết quả kiểm định tại trạm Con Cuông đạt chỉ số Nash-Sutcliffe trên 0,85 cho thấy mô hình hoàn toàn tin cậy để khôi phục dòng chảy tự nhiên.

2. Hai chỉ số kỹ thuật K1 và K2 có ý nghĩa quyết định như thế nào trong việc chọn hồ chứa mô phỏng?

Chỉ số K1 đánh giá mức độ tương quan giữa tổng lượng lũ của toàn bộ lưu vực với lượng lũ đến tuyến đập, còn chỉ số K2 phản ánh năng lực kiểm soát lũ thông qua tỷ lệ giữa lượng lũ đến hồ và dung tích hữu ích. Việc quy định ngưỡng K1 <= 10 và K2 <= 10 giúp loại bỏ chính xác các hồ chứa nhỏ không đủ năng lực điều tiết diện rộng như hồ Sông Sào hay Khe Bố.

3. Hồ Thủy điện Bản Vẽ đóng góp cụ thể như thế nào vào việc cắt lũ hạ lưu sông Cả?

Hồ Bản Vẽ sở hữu dung tích toàn bộ 1.834,6 triệu m3 và dung tích phòng lũ chuyên dụng 300 triệu m3. Khi vận hành đúng quy trình đón lũ, hồ có khả năng giữ lại từ 18% đến 35% lượng nước đỉnh lũ từ thượng nguồn biên giới Lào, làm chậm thời gian đỉnh lũ truyền về Con Cuông từ 4 đến 8 giờ, giảm thiểu đáng kể nguy cơ vỡ đê hạ du.

4. Vì sao hồ Thủy điện Khe Bố lại bị loại khỏi danh sách mô hình điều tiết phòng lũ chính?

Mặc dù nằm trên dòng chính sông Cả ngay sau Bản Vẽ, hồ Khe Bố có dung tích hữu ích rất nhỏ (chỉ 17,2 triệu m3) so với tổng lượng lũ đến tuyến đập (706 triệu m3). Hệ số K2 của hồ đạt tới 41,05 (vượt xa ngưỡng tiêu chuẩn 10), khiến công trình này chủ yếu đóng vai trò thủy điện sau đập điều tiết ngày đêm mà không có khả năng cắt lũ cho hạ du.

5. Yếu tố nào gây khó khăn lớn nhất cho công tác phòng chống lũ hạ du sông Lam trong thực tế?

Thách thức lớn nhất là sự kết hợp bất lợi giữa lượng mưa cực đoan khu giữa (lên tới 782 mm/ngày tại Đô Lương) với hiện tượng triều cường tại Cửa Hội. Khi triều cường dâng cao gặp đỉnh lũ từ sông Cả và sông La dồn về, khả năng tiêu thoát tự chảy của hạ lưu bị triệt tiêu, khiến thời gian ngập lụt kéo dài từ 15 đến 20 ngày tại vùng trũng Nam Đàn, Hưng Nguyên.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa toàn diện các đặc trưng thủy văn trên lưu vực sông Lam 17.970 km2 với các trận lũ lịch sử có lưu lượng đỉnh vượt 13.000 m3/s.
  • Xây dựng thành công bộ tiêu chí kỹ thuật K1 và K2, tạo phương pháp sàng lọc khoa học để lựa chọn 3 hồ chứa trọng điểm tham gia điều tiết lũ gồm Bản Vẽ, Bản Mồng và Thác Muối.
  • Ứng dụng tích hợp hiệu quả mô hình Mike-NAM và HEC-ResSim để hoàn nguyên và mô phỏng chính xác quá trình dòng chảy lũ, đạt hệ số kiểm định Nash-Sutcliffe trên 0,85.
  • Chứng minh năng lực cắt giảm đỉnh lũ từ 18% đến 35% của hồ Bản Vẽ và khả năng hạ mực nước lũ hạ du từ 0,45m đến 0,85m khi vận hành hệ thống liên hồ chứa.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng giúp các cơ quan quản lý cập nhật quy trình vận hành liên hồ chứa và quy hoạch đê điều an toàn giai đoạn 2026 - 2030.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và chủ đầu tư công trình thủy điện, thủy lợi hãy khai thác ngay nguồn cơ sở dữ liệu và quy trình mô hình toán từ luận văn này để nâng cao năng lực dự báo, tối ưu hóa quy trình điều tiết hồ chứa và chủ động phòng ngừa rủi ro thiên tai lũ lụt cho cộng đồng.